Chương 1: Cơ sở lý luận về bình đăng giới trong lĩnh vực lao động và an sinh xã hội Chương 2: Thực trạng về bình đăng giới trong pháp luật lao động và an sinh xã hội Việt Nam Chương 3: Thực tiễn thực thi và giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động và an sinh xã hội Việt Nam trong lĩnh vực bình đăng giới PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BÌNH ĐĂNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG VÀ AN SINH XÃ HỘI 1. Giới tính và giới. Giới tính là một thuật ngữ sinh học. Theo đó, giới tính là sự kết hợp và pha trộn các đặc điểm sinh học của sinh vật, thường dẫn đến kết quả là sự chuyên môn hóa thành các giống trong đó điển hình nhất là giống đực và giống cai’, mà cụ thể ở con người là nam và nữ.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa giới tính có phần giản lược hơn, theo đó giới tính được hiểu là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái”. Pháp luật Việt Nam cũng đưa ra một khái niệm về giới tính trong Luật Bình đẳng giới: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nit.” Thông thường, sự khác biệt về giới tính được nhận diện thông qua một số các đặc điểm bên ngoài (nam giới có râu, phát triển cơ bắp, giọng trầm thấp, có cơ quan sinh dục nam.; nữ giới có tuyến vú phát triển, không phát triển râu, giọng thanh và cao hơn nam giới, có cơ quan sinh dục nữ. Chính xác hơn nữa, giới tính được xác định và phân biệt thông qua các hormone giới tinh (estrogen, testosterone.), hoặc thông qua cặp nhiễm sắc thé giới tính: Ở người, cặp nhiễm sắc thé giới tính XX là nữ, XY là nam. Sự khác biệt này nhằm đảm bảo sự vững chắc trong di truyền, phù hợp với hình thức sinh sản hữu tính ở người, qua đó trở thành cơ sở cho sự tái sản xuất sức lao động của con người, cụ thê là phụ nữ có thể mang thai và sinh con, còn nam giới đóng góp vào quá trình thụ thai.
Gioi tính có các đặc trưng cơ bản sau: ' Giới tính — Wikipedia Tiếng Việt, https://vi.org/wiki/Giới_ tính - ? Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điên Tiêng Việt, NXB. Da Nang, tr. 405 3 Khoản 2 Điều 5 Luật Bình đăng giới năm 2006 - Tính bẩm sinh: Nêu không tính tới các thể bệnh lý, những khác biệt giữa nam giới và nữ giới về kiểu gen di truyền, về thành phần hormone trong cơ thê. đều là các đặc điểm tự nhiên, được hình thành thông qua quá trình tiễn hóa và chọn lọc, không theo cũng như không phụ thuộc vào mong muốn của con người.
Nó ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản. Chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyên dịch cho nhau. - Tinh dong nhất: Nam giới cũng như nữ giới, trên phạm vi toàn thé giới, đều có câu tạo về mặt sinh học giống nhau, cũng như có các chức năng sinh lý giống nhau và đóng góp giống như nhau vào quá trình thụ thai, sinh ra thế hệ tiếp theo. - Tỉnh bất biến: Sự khác biệt về giới tính là hiển nhiên, bất biến cả về thời gian cũng như về không gian.
Các chức năng sinh lý và sinh sản của nam giới và nữ là cố định, khống thé thay đổi và hoán đổi cho nhau được (Nam giới không thê mang thai như nữ giới. Theo Từ điển Tiếng Việt, giới là từ chỉ một lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó?. Cụ thé hơn, trong lĩnh vực bình đăng giới, giới chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Pháp luật Việt Nam quy định răng: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.
od Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm va quyên lợi, các hành vi ứng xử xã hội cũng như các ky vọng mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ. Giới không phải đề cập tới riêng giới nam hay giới nữ mà là mối quan hệ giữa hai giới và cách thức mà xã hội hình thành nên môi quan hệ này. * Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt 2003, Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, tr. 405 > Khoản 1 Điều 5 Luật Bình dang giới 2006 Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội.
Theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ chéng.con nam gIới có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội. Khi sinh ra con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dan tiếp thu và chấp nhận từ nền nếp gia đình, quy ước của xã hội va chuân mực của nền văn hóa. Các tính chất của giới bao gồm: - Tính tập nhiễm: Một người ngay từ khi sinh ra đã được định hướng về hành vi, cách ứng xử. được cho là phù hợp với nữ giới hay nam giới theo khuôn mẫu của xã hội và được dạy dỗ theo khuôn mẫu đó trong suốt quá trình trưởng thành.
Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, mau sắc, cách nói năng, thái độ và có thé cả về thức ăn và tình cảm của cha mẹ, anh chị. Con trai không được khóc, phải tỏ ra mạnh mẽ, dũng cảm, không chơi búp bê, con gái không được cau kỉnh, không nên nói to, phải dịu dàng, giúp me cơm nước, nội trợ. - Tính đa dạng: Giới thể hiện những đặc trưng của những quan hệ xã hội giữa nữ giới và nam giới, nên bản thân các quan niệm về giới cũng rất đa dang, cũng như có thé biến đổi theo các yếu tô như chính trị, kinh tế, phong tục tập quán. Ở mỗi một thời kỳ trong lịch sử, mỗi một khu vực địa lý, mỗi một nền văn hóa khác nhau, các khuôn mẫu về giới do xã hội đương thời hình thành nên cũng khác nhau và hình thành sự đa dạng về quan niệm giới.
- Tinh cỏ thể thay đổi được: Mặc dù rất khó khăn và lâu dài, nhưng các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có thé thay đổi được. Chăng hạn như quan niệm “bêp núc” là “thiên chức” của nữ giới đang được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi, các thợ giặt tinh xảo là nam giới. Trong nhiều gia đình hạt nhân, khi cả vợ và chồng cùng phải tham gia tích cực vào quá trình sản xuất nham tăng thu nhập thì nam giới cũng đang tham gia một cách tích cực vào các công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc con cái. Thậm chí trong một số gia đình, khi người vợ tham gia công việc quản lý, điều hành xã hội, tham gia vào các công việc sản xuất nhiều hơn người chồng thì người chồng đã thay vai trò của người vợ trong các công việc gia đình.
Bởi vậy, để thay đổi quan hệ giới và các đặc trưng giới cần vượt qua những định kiến và quan niệm cũ, tức là cần bắt đầu từ việc đổi mới nhận thức, thái độ, hành vi của từng người về giới. Do đó, điều mà nhân loại đang hướng tới không phải là sự bình đăng về giới tính giữa nam và nữ, mà là sự bình đăng giới. Bình đăng về giới tính là việc không thể làm được và cũng không chủ thể nào muốn làm, mà mục tiêu của thế giới là tiễn tới bình đăng giới. Mối quan hệ giữa giới tính và giới.
Nói tới giới tính là nói tới đặc điểm của con người do tự nhiên quy định. Nó 6n định, thậm chí, hầu như bat biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian và thời gian. Chăng hạn, phụ nữ trong mọi thời đại, mọi chế độ chính trị, mọi nền văn hóa đều giống nhau ở khả năng mang thai và sinh sản. Còn nói đến giới là nói đến địa vị xã hội, thái độ và hành vi ứng xử giữa nam và nữ do hoàn cảnh, điều kiện, văn hóa, xã hội.
Địa vị, thái độ và hành vi đó không bat biến mà thay đổi theo sự thay đổi của hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa. Giới và giới tính có quan hệ chặt chẽ với nhau. Giới tính là tiền đề sinh học của giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ. Không nên và không thể xem nhẹ sự khác biệt về giới tính giữa nam, nữ.
Trái lại, cần tìm hiểu rõ những sự khác biệt này vì điều đó cho phép người ta hiểu được đầy đủ hơn năng lực, sở trường, nhu câu riêng của nam, nữ đê có sự phân công lao 10 động phù hợp nhằm phát huy năng lực và đáp ứng đúng hơn nhu cầu riêng của nam và nữ. Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để tổ chức và triển khai sự phân công lao động hợp lý. Tuy thế cần thấy vai trò của từng nhân tố và quan hệ giữa chúng không đơn giản và luôn thay đổi do tác động của hoàn cảnh xã hội, văn hóa, điều đó được biểu hiện rõ ở thời kỳ đầu của lịch sử loài người, ở thời kỳ này, nhân tổ giới tính chi phối mạnh hơn, bởi con người sông theo ban năng tự nhiên, còn quan hệ xã hội thì mới sơ khai. Đặc điểm tự nhiên của con người lúc đó tác động mạnh hơn so với tác động của quan hệ xã hội.
Do vậy, đặc điểm giới tính của nhóm xã hội nao phù hợp với tính chất, trình độ của nền sản xuất thì nhóm đó tự nhiên có được vi trí cao hơn. Vi dụ, thời ky đầu tiên của lịch sử loài người, đặc điểm giới tính của phụ nữ phù hợp hơn với nên kinh tế hái lượm và trồng trọt và đó chính là cơ sở tự nhiên của chế độ mẫu quyên. Khi xã hội chuyên sang nền kinh tế lẫy chăn nuôi săn bắn là chính thì đặc điểm giới tính của đàn ông tỏ ra phù hợp và họ đã giành được vi tri thống trị của phụ nữ trước đó và chế độ phụ quyền được xác lập. Từ khi chế độ phụ quyền được xác lập, đàn ông với ưu thế sẵn có đã buộc xã hội chấp nhận quan niệm và cách sắp xếp của họ.