Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÌNH ĐẨNG GIỚI VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm về giới và bình đẳng giới trong gia đình dân tộc thiểu số 1. Giới và giới tính Tại Điều 5 Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã chỉ rõ: Giới: Chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Giới tính: Chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ.
Khái niệm giới và giới tính cho thấy: Giới tính thì không thể thay đổi được; Giới có thể thay đổi được phụ thuộc vào thời gian, sự quyết tâm của các cấp chính quyền và của toàn xã hội. Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định. Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là “vai trò giới”. Vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về nữ giới trong một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể nào đó.
Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội. Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò như: vai trò sản xuất, vài trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng. Bình đẳng giới, bất bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới - Bình đẳng giới: Khái niệm “bình đẳng giới” được quy định trong khoản 3, điều 5 của Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006. Theo đó, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Nội dung của luật bình đẳng giới đã chỉ rõ bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình: + Bình đẳng trong lĩnh vực chính trị + Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế + Bình đẳng trong lĩnh vực lao động + Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo + Bình đẳng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ + Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao + Bình đẳng trong lĩnh vực y tế + Bình đẳng trong gia đình Nội dung bình đẳng giới trong gia đình là một trong tám nội dung của Luật bình đẳng giới có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, với các quy định cụ thể: + Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; + Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình; + Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật; 15 luan an + Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển’ + Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình; Khi bàn về bình đẳng giới, chú ý đến phân biệt các cấp độ khác nhau, mà ở đây chủ yếu nói về hai cấp độ chính là bình đẳng trên văn bản và bình đẳng thực tế. Hai cấp độ này đều có tầm quan trọng riêng và bổ sung cho nhau. Bình đẳng trên văn bản có nghĩa là các nguyên tắc bình đẳng ghi nhận trong pháp lý. Nó có phạm vi tác động rộng lớn, lâu dài.
Bình đẳng trên thực tế là kết quả đạt được của việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng ghi nhận ở văn bản pháp lý. Bình đẳng trên thực tế là lợi ích phụ nữ được hưởng trên cơ sở bình quyền với nam giới. Tuy vậy, những lợi ích thiết thực này thường biến động do tác động của nhiều yếu tố trong đó nổi bật là tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hiệu quả giám sát của thực hiện các chủ trương, chính sách. Bất bình đẳng giới: là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam hoặc nữ trong việc thực hiện quyền con người, đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước.
Nói cách khác, bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt với nam giới và phụ nữ tạo nên các cơ hội khác nhan, sự tiếp cận các nguồn lực khác nhau, sự thụ hưởng khác nhau giữa nam và nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trên thực tế có thể thấy, sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng giới xảy ra ở hầu hết các xã hội. Sự phân biệt đối xử thường được thấy ở bốn lĩnh vực là: giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tiếp cận cơ hội kinh tế và tham gia lãnh đạo hay tham chính. Sự phân biệt đối xử này xuất phát từ quan niệm dập khuôn cho rằng phụ nữ có ít quyền tự quyết hơn, có ít nguồn lực để sử dụng hơn và có ít ảnh hưởng đối với quá trình ra quyết định có liên quan tới xã hội và cuộc sống riêng của họ.
Nó đặt người phụ nữ vào một vị trí phải phục tùng và bất lợi so với nam giới. 16 luan an Thúc đẩy bình đẳng giới: là những hoạt động kích thích, tạo điều kiện, động lực cho hoạt động bình đẳng giới; tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy được năng lực bản thân, có cơ hội học hành, cơ hội việc làm đảm bảo được thu nhập cũng như sức khỏe của mình để hoàn thành thiên chức làm mẹ, làm vợ và các hoạt động xã hội. Tại Điều 19 Luật Bình đẳng giới đã chỉ rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bao gồm: + Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; + Đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam; + Hỗ trợ để tạo điều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam; + Quy định tiêu chuẩn, điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam; + Quy định nữ được quyền lựa chọn trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; + Quy định việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam; + Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định tại khoản 5 Điều 11, khoản 2 Điều 12, khoản 3 Điều 13, khoản 5 Điều 14 của Luật này. Dân tộc thiểu số và bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số: Tại khoản 2, Điều 4, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc đã nêu: “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với các dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam”; Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số cả nước (Tại Việt Nam dân tộc Kinh chiếm 85,7% tổng dân số cả nước, do vậy 53 dân tộc còn lại đều là DTTS).
Theo số liệu Điều tra thực trạng KT-XH của 53 DTTS năm 2015, tổng dân số của 53 DTTS có 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước; có 6 17 luan an dân tộc trên 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Mông, Nùng, Khmer), 16 dân tộc dưới 10.000 người, trong đó có 5 dân tộc dưới 1000 người là Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La. Đồng bào DTTS sinh sống thành cộng đồng ở 51 tỉnh/thành phố (có 9 tỉnh đồng bào DTTS chiếm trên 70% dân số, 3 tỉnh chiếm từ 50-70% dân số, 4 tỉnh từ 30-50% dân số, 14 tỉnh trên 10% dân số), 548 huyện, 5266 xã trong cả nước. Trong đó phân bố chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải miền Trung. Địa bàn cư trú chủ yếu của đồng bào DTTS là vùng núi cao, biên giới, vùng có điều kiện KT-XH khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số: Trong luận văn này, khái niệm bình đẳng giới vùng DTTS được xác định là tình trạng vị thế của nam và nữ trong bối cảnh văn hóa tộc người vùng DTTS. Theo đó, bên cạnh những vị thế trong gia đình, cộng đồng và xã hội, luận văn còn xem xét đến các khía cạnh điều kiện và cơ hội phát triển của cá nhân và của cộng đồng cũng những mức độ thụ hưởng và tiếp cận các dịch vụ xã hội về thành quả của sự phát triển theo đặc trưng văn hóa tộc người thiểu số. Lý luận về Công tác xã hội trong lĩnh vực bình đẳng giới 1. Công tác xã hội Theo NASW (Hiệp hội quốc gia những người làm công tác xã hội của Hoa Kỳ): “CTXH là một chuyên ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy”.
Theo Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH có thể hiểu là một nghề, môt hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy 18 luan an môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”. (8, tr 4) Vai trò của công tác xã hội là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và cả hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội. Để đạt được điều này, công tác xã hội phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu.