Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo. Chương 2:Triển khai mô hình công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO 1. Lịch sử vấn đề đƣợc nghiên cứu và triển khai ứng dụng * Một số nghiên cứu và triển khai ứng dụng của công tác xã hội với xóa đói giảm nghèo trên thế giới Nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo đã được thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau.Tuy nhiên, nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo dưới góc độ công tác xã hội mới được đề cập đến trong một số công trình. Công tác xã hội và xóa đói giảm nghèo (Social word and poverty reduction) được nghiên cứu tại Umuebu - Nigeria: Các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội ít khi tìm thấy trong việc lập kế hoạch và thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở Nigeria.
Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống này bằng cách chứng minh các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thàng công ở Nigeria. Xóa đói giảm nghèo và vai trò của nhân viên công tác xã hội (Poverty eradication and the role for social workers) của Nairobi (tháng 1 năm 2010): Trong thực tế tất cả các nơi trên thế giới, những người làm công tác xã hội lo ngại về đói nghèo đã tăng lên, những nguồn lực thiếu, nguyên nhân của việc đẩy con người vào đói nghèo. Ở cấp độ vi mô của thực hành hàng ngày, các nhân viên xã hội làm việc một cách sáng tạo và sáng tạo để giúp người dân (cá nhân và cộng đồng) hiểu tình hình của họ và thay đổi hành vi và môi trường của họ. Một vai trò quan trọng là phát triển cộng đồng, đòi hỏi kỹ năng phân tích cộng đồng, lập kế hoạch xã hôi, tổ chức cộng đồng và hoạt động xã hội.Phát triển cộng đồng đòi hỏi khả năng để thúc đẩy các cơ hội kinh tế cho người dân khu vực thông qua việc duy trì công nghiệp, phát triển doanh nghiệp địa phương, đào tạo việc làm.Vai trò khác là cộng đồng thực hành 10 z giúp mọi người khám phá nguồn tài nguyên riêng của họ và khả năng của mình để tạo ra ảnh hưởng và thay đổi tích cực.Tầm quan trọng của điều này đã được nhấn mạnh bằng cách nhận ra rằng nghèo đói liên quan đến một tập hợp phức tạp của các tương tác giữa các đặc điểm cá nhân và một nguồn lực của cộng đồng và các cơ hội.Với những khó khăn, nhân viên xã hội đánh giá về rủi ro của các cá nhân và họ phải sử dụng khả năng và ảnh hưởng của họ để bảo vệ các nạn nhân của đói nghèo từ bản thân hoặc từ những người khác.Ví dụ như tình trạng bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc sức khỏe tâm thần.
Nhân viên xã hội làm việc với những người nghèo đói và chứng kiến hành vi của họ thay đổi tầm quan trọng của việc tích hợp lý thuyết về các giá trị chuyên nghiệp mà mọi người tôn trọng, sự lựa chọn và quyết định của mình. Trong phương pháp này, cộng đồng thực hành kết hợp làm việc với các cá nhân và gia đình có công việc cộng đồng, tập trung vào nguồn lực và cơ hội tăng cường cùng với năng lực cá nhân và cá nhân phát triển ra các nguyên nhân nghèo đói của họ. Đó là điều cần thiết cho xóa đói giảm nghèo. Vai trò của công tác xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philippines: tư tưởng, chính sách và các ngành nghề (The role of social work in Philippine poverty - reduction program: ideology, policy, and the profession): bài viết (Châu Á Thái Bình Dương Tạp chí Công tác xã hội và Phát triển, tập 23, số 1, năm 2013, trang 35-47) xem xét vai trò của công tác xã hội trong 3 chương trình xóa đói giảm nghèo ở Philippines, nhấn mạnh đến việc kiểm tra tập trung vào các giá trị và nguyên tắc làm cơ sở cho việc thực hiện và mối quan hệ với quan niệm cụ thể của công tác xã hội.
Có ý kiến cho rằng, vai trò của công tác xã hội trong các chương trình này phản ánh tư tưởng thống trị trong chính sách xã hội Philippines. Tính hợp pháp nhận thức của phương pháp tiếp cận có liên quan đến mức độ mà họ thể hiện quan niệm chủ đạo của các vấn đề xã hội và công tác xã hội, đặc trưng bởi sự tham gia 11 z của nhân viên và khách hàng tập trung với mục đích thực sự thay đổi trong các cá nhân và môi trường trực tiếp của mình. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu XĐGN và phát triển bền vững là một trong những vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm, từ Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, các tổ chức phi chính phủ đến các vùng lãnh thổ, các quốc gia, chính quyền địa phương các cấp. Trên bình diện toàn cầu, Liên hợp quốc xác định XĐGN là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Ở phạm vi quốc gia, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã xác định XĐGN là một trong những hành động được ưu tiên nhất. đồng thời, nghèo đói cũng trở thành một chủ đề nghiên cứu được tranh luận nhiều. Xung quanh vấn đề nghèo đói đã có không ít các công trình nghiên cứu các cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (Ngân hàng thế giới, Liên Hợp Quốc, tổ chức ActionAid - Việt Nam, Oxfam tại Việt Nam) như: “Đói nghèo ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị Hằng, “Giảm nghèo trong nông thôn hiện nay” tác giả Nguyễn Văn Tiêm 1993, “Giảm nghèo Việt Nam” của UNICF năm 1995; “Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam” của ADUKI năm 1995; “vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hằng 1997… Các nghiên cứu vĩ mô cũng đề cập khá chi tiết đến yếu tố phân tầng xã hội ở Việt Nam như “Báo cáo về tình trạng nghèo đói và công bằng ở Việt Nam” của tổ chức Oxfam năm 1999 hay công trình “Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” do Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa chủ biên. Những nghiên cứu này đề cập đến vấn đề nghèo 12 z đói từ nhiều cấp độ khác nhau như vùng miền, đô thị, nông thôn, miền núi.xã nghèo, hộ nghèo… Đề cập đến các vấn đề nghèo đói của phụ nữ có thể kể đến đề tài “Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển.
Mục đích chính của đề tài là xem xét đánh giá thực trạng tình hình nông thôn vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam dưới góc độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết trên các lĩnh vực chủ yếu: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm. Một đề tài khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng”do trung tâm nghiên cứu khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006. Bên cạnh vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế XĐGN nghiên cứu cũng đã đề cập đến vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội LHPN, Hội nông dân,… trong phát triển kinh tế - xã hội, nói chung và phong trào giảm nghèo nói riêng. Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên về đề tài: “Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Cạn” năm 2006 với những nội dung chủ yếu là: phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội cả hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới; chỉ ra mối liên hệ của các đặc trưng kinh tế xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo.
Từ đó, đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế - xã hội của hộ nghèo và bước đầu đề xuất một số kiến nghị và giải pháp. Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu trường hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm 13 z 2008 đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương; làm rõ hoạt động của các đoàn thể với công tác XĐGN đặc biệt là vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong việc triển khai các hoạt động giảm nghèo của người phụ nữ ở ngoại thành Hà Nội. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội trong hoạt động XĐGN trên địa bàn hai xã này. Có rất nhiều nghiên cứu đói nghèo ở các góc độ khác nhau về cả lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về phụ nữ nghèo ở xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, nhận thức được điều đó tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” Nhằm làm rõ hơn về những khó khăn của những phụ nữ nghèo nơi đây, đồng thời áp dụng CTXH cá nhân vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện đời sống của phụ nữ nghèo tại xã Quảng Phong, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Các lý thuyết vận dụng trong đề tài 1.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ. Ông được thế giới biết đến như là người tiên phong cho trường phái tâm lý học nhân văn (Humanistic psychology) - một trường phái nhấn mạnh những giá trị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của con người - bởi hệ thống lý thuyết về “thang bậc nhu cầu” (Hierarchy of Needs) của con người.