CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1 1 Cơ sở lý luận của đề tài: 1 1 1 Mã số khái niệm: 1 1 1 1 Khái niệm giới: Khái niệm về giới được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau. Theo Trần Thị Quế [7] [12] có thề hiểu như sau: "Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ tương quan về địa vị xã hội cụ thể hoặc nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội". Theo Bùi Minh Hà [2] thì: "Giới nói đến sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, các đặc điểm khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ giữa nam và nữ do xã hội xác lập nên". Và giới được thay đổi theo: Bối cảnh Tuổi tác Giới Giai cấp Dân tộc Dân tộc 1 Các quan hệ giới được thay đổi theo hoàn cảnh cụ thể.
Các quan hệ giới chịu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội như giai cấp, dân tộc, tuổi tác. Các quan hệ giới có thể có sự biến đổi theo sự biến đổi của hoàn cảnh, kinh tế, chính trị. 6 Cần phải hiểu rằng, khái niệm về giới này khác hoàn toàn với thuật ngữ “giới công nông”, “giới tri thức”, “giới kinh doanh”. thường được sử dụng để chỉ các nhóm xã hội khác nhau.
Vai trò của giới: Là các chức năng, trách nhiệm của nam giới và phụ nữ theo quan niệm của xã hội, cộng đồng. Có 3 nhóm vai trò giới: + Vai trò sản xuất + vai trò sinh sản và nuôi dưỡng (vai trò tái sản xuất) + Vai trò cộng đồng - Vai trò sản xuất: Đó là những công việc do cả phụ nữ và nam giới đảm nhiệm nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền bạc hoặc vật chất, chúng gồm có sản xuất hàng hoá có giá trị trao đồi và các loại hàng hoá có giá trị sử dụng. Vai trò tái sản xuất: Đó là những hoạt động tao ra nòi giống nhằm duy trì và sản xuất sức lao động. Vai trò này không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn gồm cả việc chăm lo duy trì phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai.
Đây là vai trò quan trọng bởi nó là những công việc thiết yếu để duy trì cuộc sống và sự tồn tại của con người. - Vai trò cộng đồng: Thể hiện qua các hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện ở cấp độ cộng đồng, các tổ chức xã hội. Tuy nhiên qua những thời kỳ khác nhau, do những quan niệm tư tưởng về giới mà mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới vào các hoạt động trên cũng khác nhau. Phần lớn phụ nữ có ít điều kiện tham gia vào các hoạt động xã hội, họ chủ yếu đảm nhiệm những công việc nội trợ và chăm sóc gia đình.
Đây cũng chính là nguyên nhân gây nên hiện tượng bất bình đẳng giới. ĐẶC ĐIỂM CÁC LOẠI VAI TRÒ VỀ GIỚI 7 + Vai trò sản xuất: Bao gồm các hoạt động nhằm tạo thu nhập, cho sự thịnh vượng và phát triển kinh tế của gia đình và xã hội. Ví dụ: Đi cày, đi cấy, gặt lúa, mua bán. + Vai trò (tái sản xuất) sinh sản, sinh con, nuôi dạy, nuôi dưỡng con cái, chăm sóc sinh sản v.
Ví dụ: Sinh con, chăm sóc con cái và các thành viên trong gia đình. 8 + Vai trò cộng đồng là những hoạt động diễn ra ngoài phạm vi gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hoạt động này không mang lại thu nhập cho gia đình Ví dụ: Họp tổ dân phố, họp phụ nữ, tham gia văn nghệ, hội diễn. * Nhu cầu giới: Các mong muốn và đòi hỏi đặc trưng, khác biệt giữa nữ và nam trong một bối cảnh, điều kiện nhất định hay trong một hệ thống xã hội cụ thể. Từ đó người ta phân ra: - Nhu cầu thực tiễn: Là những nhu cầu cụ thể, tức thời và thiết yếu của mỗi giới để thực hiện đầy đủ các vai trò của mình.
- Nhu cầu chiến lược: Là những yêu cầu, mong muốn của nữ hoặc nam khi được đáp ứng sẽ góp phần cải thiện địa vị của nữ hoặc nam, tạo nên quan hệ giới bình đắng VD: Thực tiễn là để thực hiện vai trò nuôi dưỡng trong gia đình của mình, phụ nữ có nhu cầu: + Bếp ga, than củi để nấu nướng + Tủ lạnh để bảo quan thực phẩm + Nước sạch nấu ăn, giặt giũ + Thuốc thông thường để trị bệnh cho trẻ con. 9 Để thực hiện vai trò sản xuất của mình ngoài xã hội, nam giới có nhu cầu : + Ô tô, xe máy để đi đến nơi làm việc + Máy vi tính tại nhà soạn thảo, lưu trữ + Bàn ghế, thư viện nhỏ tại nhà để làm việc ngoài giờ. Trong nhu cầu về chiến lược: Phu nữ:. Được phân công mọi việc như nam giới đang làm.
Đề bạt ở các chức vụ ra quyết định. Được đào tạo mọi ngành nghề như nam giới. Được nam giới chia sẻ việc nội trợ và chăm nom con cái Nam giới - Không kỳ thị công việc đối với phụ nữ - Sẵn sàng đảm nhận các công việc được giao. - Được trang bị thêm kiến thức nuôi dạy trẻ - Được trang bị phương tiện, kỷ thuật để đơn giản hóa việc nội trợ * Nhu cầu về giới thực tiễn: 10 Cải thiện điều kiện vật chất cho nam và nữ Liên quan đến chức năng của phân công lao động, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, ra quyết định Đáp ứng nhu cầu giới thực tiễn giải quyết được các bất cập và bất bình đẳng giới trước mắt * Nhu cầu về chiến lược: Cải thiện vị trí xã hội kinh tế chính trị cho phụ nữ Những thách thức của phân công lao động, tiếp cận và kiêm soát nguồn lực, ra quyết định Đáp ứng nhu cầu giới chiến lược sẽ làm thay đổi mối quan hệ quyền lực giữa nam giới và phụ nữ và sẽ góp phần giải quyết được những nguyên nhân của bất bình đẳng giới 1.
Phân biệt giới và giới tính: - Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội, văn hoá, truyền thống, do được học giáo dục mà có ở mỗi địa phương khác nhau. Giới có thể thay đổi theo thời gian và nhân tố bên ngoài. - Giới tính chỉ sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ từ giác độ sinh lý học, sự khác biệt này liên quan chủ yếu đến quá trình tái sản xuất nòi giống.
Ví dụ: + Nam giới có thể sản xuất ra tinh trùng. + Nữ giới có thể mang thai. Ngoài ra giới và giới tình có những đặc trưng khác biệt nhau mà chúng ta có thể dễ dàng phân biệt qua bảng sau: [l] Bảng 1. Sự khác biệt nhau về đặc trưng cơ bản của giới và giới tính GIỚI GIỚI TÍNH 11 - Đặc trưng xã hội - Đặc trưng sinh học - Do dậy và học mà có - Bẩm sinh - Đa dạng - Đồng nhất - Biến đổi theo hoàn cảnh xã hội - Không biến đổi - Thay đổi theo không gian và thời - Không thay đổi gian - Ví dụ: Ở một số nơi đàn ông ở nhà - Ví dụ: Đàn ông không thể mang làm nội trợ còn phụ nữ đi làm kiếm thai và sinh con được tiền 2.
Khái niệm về hộ gia đình nữ và kinh tế hộ gia đình nữ: Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, các tác giả định nghĩa về "hộ" như sau: "Hộ" là tất cả những người sống chung trong một ngôi (mái) nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung. Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về "Hộ" gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ. Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: Hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm. Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn".
Nhóm "hệ thống thế giới" (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981,1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: "Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh. Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác". Hộ nông dân (nông hộ) Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra định nghĩa về nông dân, nông hộ.Cụ thể: hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sứ dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, hộ luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặt trọng bằng việc tham gia một phần trong thị trường với một trình độ hoàn chỉnh không cao. Theo Frank Ellis các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế để phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường là: Thứ nhất là đất đai: Người nông dân với ruộng đất có được chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; đất đai là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những biến động thiên tai.
Thứ hai là lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người nông dân. Người "lao động gia đình" khác với "lao động xã hội) là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt hộ nông dân với các xí nghiệp tư bản. Thứ ba là tiền vốn và sự tiêu dùng: Nhiều người đều cho rằng: người nông dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy,, (Woly, 1966) nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn dầu tư và tích lũy, cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận.