CHƯƠNG 1. 29 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU. Thiết kế nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu.
Khách thể nghiên cứu. Tiêu chí chọn mẫu và loại trừ. Kích cỡ mẫu. Công cụ nghiên cứu.
Quy trình nghiên cứu. Dịch thuật thang đo. Nghiên cứu thí điểm. Thu thập dữ liệu.
Đạo đức nghiên cứu. Kế hoạch phân tích dữ liệu. 34 ii TIỂU KẾT CHƯƠNG 2. 36 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN.
Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu. Kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu. Kiểm tra mối liên hệ giữa sự nghiền ngẫm và các biểu hiện trầm cảm (H1). Kiểm tra mối liên hệ giữa cảm giác thuộc về và các biểu hiện trầm cảm (H2).
Mối liên hệ giữa sự nghiền ngẫm và các biểu hiện trầm cảm. Mối liên hệ giữa cảm giác thuộc về và các biểu hiện trầm cảm. Vai trò điều tiết của cảm giác thuộc về trong mối liên hệ giữa sự nghiền ngẫm và các biểu hiện trầm cảm. 47 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3.
49 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 80 iii LỜI CẢM ƠN Tôi vô cùng biết ơn khi được nhận những sự hỗ trợ vững chắc của bạn bè, gia đình, giảng viên và những người đã truyền cảm hứng cho chủ đề nghiên cứu này. Tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn của tôi-Tiến sĩ Ngô Xuân Điệp, nhờ có sự hỗ trợ và chỉ dẫn tận tình của Thầy mà tôi có thể hoàn thành bài luận văn của mình.
Tôi sẽ mãi mãi trân trọng ba năm vàng son mà tôi đã trải qua trên hành trình này cùng với đồng đội của mình. Tôi trân trọng và biết ơn 14 thành viên lớp Cao học tâm lý lâm sàng K02, họ không chỉ là bạn cùng lớp mà còn là gia sư, người cố vấn, người cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và những năm tháng học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, TP. Ngoài ra, tôi xin dành sự biết ơn chân thành gửi đến Phạm Minh Ánh, Tôn Mẫn Kỳ, Mào Thị Minh Phương và Đào Đặng Minh Thư đã đồng ý hỗ trợ tôi trong vai trò dịch thuật các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu này. Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình cùng những người bạn thân thiết của mình.
Họ đã luôn đồng hành bên cạnh, là nguồn động viên tinh thần và đem đến sự hỗ trợ to lớn, giúp tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học tập của mình. Tôi xin chân thành cảm ơn! iv TÓM TẮT TIẾNG VIỆT Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa nghiền ngẫm, cảm giác thuộc về và các biểu hiện trầm cảm ở sinh viên Việt Nam. Để thực hiện mục đích trên, nghiên cứu này được tiến hành dựa trên khảo sát từ 176 sinh viên đang theo học tại các trường đại học tại Việt Nam trong độ tuổi từ 18-25 tuổi. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình cắt ngang tại một thời điểm.
Các khách thể tham gia nghiên cứu bằng cách trả lời các bảng hỏi trực tuyến bao gồm Biểu mẫu nhân khẩu học, Tiểu thang đo D thuộc thang đo Trầm cảm Lo âu Căng thẳng (Depression Anxiety Stress Scale), Bộ câu hỏi về phong cách nghiền ngẫm (Ruminative Thought Style questionnaire), Tiểu thang đo P của Công cụ đánh giá Cảm giác Thuộc về (Sense of Belonging Instrument). Kết quả phân tích cho thấy có mối quan hệ giữa nghiền ngẫm, cảm giác thuộc về và các biểu hiện trầm cảm ở sinh viên Việt Nam. Cụ thể nghiên cứu cho thấy sự nghiền ngẫm có mối tương quan thuận chiều với các biểu hiện trầm cảm, cảm giác thuộc về có mối tương quan ngược chiều với các triệu trầm cảm ở sinh viên. Ngoài ra, cảm giác thuộc về không điều tiết mối liên hệ giữa sự nghiền ngãm và các biểu hiện trầm cảm trong nghiên cứu này.
Những ý nghĩa và kiến nghị cho nghiên cứu cũng được đưa ra thảo luận. v TÓM TẮT TIẾNG ANH The research was conducted to investigate the relationship between rumination, sense of belonging, and depressive symptoms among Vietnamese college students. To explore this relationship, the study was conducted based on a survey of 176 students currently enrolled in various universities in Vietnam, ranging in age from 18 to 25 years. This research utilized a quantitative cross-sectional research design.
Participants took part in an online survey that included a Demographic Questionnaire, the subscale D of The Depression Anxiety Stress Scale, the Ruminative Thought Style Questionnaire, and the subscale P of The Sense of Belonging Instrument. The analysis of the results revealed a relationship between rumination, sense of belonging and depressive symptoms among Vietnamese college students. Specifically, the study found that rumination was positively correlated with depressive symptoms, while a sense of belonging showed a negative correlation with depressive symptoms among students. Additionally, moderation analyses of sense of belonging on the relation between rumination and depressive symptoms was not found to be significant in this study.
The implications and recommendations for further research were also discussed. vi DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1. Đặc điểm sinh viên trong nghiên cứu hiện tại. Thống kê mô tả điểm trung bình (M), độ lệch chuẩn (SD) và kiểm định phân phối chuẩn của cho sự nghiền ngẫm, cảm giác thuộc về và các biểu hiện trầm cảm.
Tương quan Pearson’r giữa sự nghiền ngẫm, cảm giác thuộc về và các biểu hiện trầm cảm. Mô hình hồi quy Poisson dự báo các biểu hiện trầm cảm. Mô hình điều tiết với sự nghiền ngẫm là biến dự báo, các biểu hiện trầm cảm là biến phụ thuộc và cảm giác thuộc về là biến điều tiết khi không cutoff. Mô hình điều tiết với sự nghiền ngẫm là biến dự báo, các biểu hiện trầm cảm là biến phụ thuộc và cảm giác thuộc về là biến điều tiết khi có cutoff.
43 vii DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1. Mô hình nhận thức của Aaron Beck. Mô hình tích hợp để hiểu, đánh giá và thúc đẩy cảm giác thuộc về. Mô hình điều tiết của cảm giác thuộc về trên mối liên hệ giữa sự nghiền ngẫm và các biểu hiện trầm cảm.
Mô hình hồi quy biến điều tiết MMR. 35 viii DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT APA American Psychological Association Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ B Hệ số hồi quy (coefficient) DASS-D Các biểu hiện trầm cảm DSM-5 Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần M Điểm trung bình (mean) RST Sự nghiền ngẫm SD Độ lệch chuẩn (standard deviation) SOBI-P Cảm giác thuộc về ix DẪN NHẬP 1. Lý do chọn đề tài Giai đoạn sinh viên là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời. Đây là thời gian mà nhiều cá nhân có sự thay đổi môi trường sống, bắt đầu một cuộc sống tự lập và tách biệt khỏi gia đình, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm, thay đổi tính chất các mối quan hệ, thay đổi môi trường học tập, nhu cầu học tập với cách thức học tập khác hẳn so với thời gian học phổ thông (Hường & Hiếu, 2014; Hussey & Smith, 2010; Patton GC, Sawyer SM & Santelli JS, 2016).
Đây là lúc sinh viên phải cố gắng tạo các kết nối xã hội mới để tìm vị trí của mình trong môi trường mới, có được sự hỗ trợ và cảm thấy hòa nhập với cộng đồng mới (Scanlon, Rowling, L. Đó cũng là khoảng thời gian mà mỗi cá nhân phải đối mặt với nhiều vấn đề như thích nghi với thói quen mới, nơi ở mới, áp lực học tập, căng thẳng kinh tế và đưa ra những quyết định quan trọng trong cuộc sống (Souza, Caldas, T., & De Antoni, C, 2017; Quỳnh & Bắc, 2021). Thời gian này trùng với một giai đoạn phát triển quan trọng của con người. Đó là quá trình chuyển đổi từ tuổi vị thành niên sang tuổi trưởng thành mà theo Erikson (1963, 1968) nó đặc trưng nổi bật là mong muốn kết hợp danh tính của bản thân với của người khác mà không đánh mất nó và hình thành các mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với những người khác.
Từ đó, việc cảm nhận bản thân thuộc về (sense of belonging) có vai trò nổi trội đối với sinh viên. Khi sinh viên có được những mối quan hệ bạn bè, tham gia vào một nhóm, gắn bó với môi trường đại học, cảm nhận thuộc về nhóm sẽ giúp nuôi dưỡng những cảm xúc tích cực, nâng cao ý thức về giá trị bản thân, cảm nhận sự phù hợp với nhóm (Tajfel & Turner, 1979; McIntyre JC, Worsley, J, Corcoran, R, Harrison Woods, P & Bentall, RP, 2018; France, M. & Swerdzewski, 2010; Wilson & Gore 2013). Khi nhận thức bản thân được đánh giá cao và được tôn trọng bởi các sinh viên khác và cảm thấy được kết nối, được hòa nhập, có giá trị thì sinh viên dễ nhận thấy ý nghĩa cuộc sống hơn, giúp họ quản lý được sự căng thẳng cũng như ngăn ngừa các bệnh về thể lý lẫn tinh thần (Hagerty, Williams, Coyne, & Early, 1996; Lambert, 2013).
Tuy nhiên, khi không vượt qua khó khăn và thách thức thì 1 sinh viên có nguy cơ gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là trầm cảm. Sự xuất hiện của các BiỂU hiện trầm cảm trong giai đoạn quan trọng của quá trình chuyển đổi từ tuổi vị thành niên sang tuổi trưởng thành có thể có những tác động bất lợi, không chỉ đối với sự phát triển và hoạt động học tập mà còn đối với việc làm và năng suất làm việc cũng như các mối quan hệ xã hội trong tương lai. Do đó, trầm cảm đang là vấn đề đáng chú ý ở nhóm sinh viên. Các quốc gia đưa ra tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên đại học rất cao trong một số nghiên cứu trong nước, điển hình như Trung Quốc với 23,8% (Lei, Xiao, Liu & Li, 2016), Iran với 33% (Sarokhani, D., 2013), Đức với 26,7%, ở Đan Mạch 24,9% và ở Ba Lan 45,5% (Rafael T.
Tại Việt Nam, một nghiên cứu mức độ phổ biến của các triệu chứng căng thẳng, lo lắng và trầm cảm trong số các sinh viên đại học cho thấy nhiều hơn 90% sinh viên báo cáo có các triệu chứng căng thẳng, trầm cảm (TQ. Kết quả này cao hơn rất nhiều so với kết quả ở các nước khác. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra một con số rất lớn về tỷ lệ sinh viên báo cáo các biểu hiện trầm cảm như 32% sinh viên Hà Nội trải nghiệm biểu hiện trầm cảm (Nguyễn Thái & Nguyễn Thu Hương, 2018) hay 52.3% sinh viên Trà Vinh tiết lộ biểu hiện trầm cảm (Nguyễn Thị Hồng Tuyền, Trương Quang Đạt & và Huỳnh Thị Hồng Nhung, 2019).