Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Mường Bang, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La" do sinh viên Phùng Thị Diệp thực hiện (chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Khoa Kinh tế & Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018 dưới sự hướng dẫn của TS. Kiều Thị Thu Hương và cán bộ hướng dẫn Hà Văn Tùng).

Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh thực tiễn: phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước, trực tiếp tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, đảm nhiệm nhiều vai trò kép từ sản xuất, tái sản xuất lao động đến chăm sóc gia đình. Tại khu vực nông thôn miền núi như xã Mường Bang (huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) – một xã vùng sâu, vùng xa có phụ nữ chiếm 47,20% dân số và phần lớn trực tiếp lao động trong khu vực nông nghiệp – vai trò của phụ nữ vẫn chưa được ghi nhận đầy đủ do ảnh hưởng của các định kiến và quan niệm truyền thống. Tiếng nói của phụ nữ trong các quyết định kinh tế và chính trị ở cấp hộ gia đình cũng như cộng đồng còn hạn chế.

Đề tài tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào?
  2. Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao?
  3. Các giải pháp nào nhằm tháo gỡ khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ?

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Mường Bang trong phát triển kinh tế hộ; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình và đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn tại xã Mường Bang.
    2. Tìm hiểu mặt thuận lợi, khó khăn và khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ.
    3. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Mường Bang, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
  • Phạm vi nội dung: Hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình (sản xuất nông - lâm nghiệp, kinh doanh dịch vụ, quản lý vốn vay, phân công lao động gia đình và hoạt động cộng đồng).
  • Phạm vi không gian: Xã Mường Bang, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (tập trung khảo sát tại 3 bản: Bản Sọc, Bản Dinh và Bản Chè Mè).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thực hiện từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018 (sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2015 – 2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và khung pháp lý

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận về giới và kinh tế nông hộ:

  • Khái niệm Giới (Gender) và Giới tính (Sex): Dựa trên định nghĩa của SEAGEP (2001) và Tài liệu tập huấn về bình đẳng giới (2008), tác giả phân biệt ranh giới giữa giới tính (đặc trưng sinh học, bẩm sinh, đồng nhất, không thay đổi) và giới (quan hệ xã hội giữa nam và nữ, hình thành qua dạy và học, đa dạng, biến đổi theo thời gian).
  • Khung ba vai trò giới: Bao gồm vai trò sản xuất (tạo ra của cải, thu nhập hoặc tự tiêu dùng), vai trò tái sản xuất (sinh con, nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình, tái tạo sức lao động) và vai trò cộng đồng (hoạt động tình nguyện mang lại phúc lợi công cộng và tham gia tổ chức, đoàn thể).
  • Nhu cầu giới thực tế và Nhu cầu giới chiến lược (Lợi ích giới): Phân tích nhu cầu trực tiếp phục vụ đời sống thường nhật gắn với vai trò truyền thống và nhu cầu chiến lược nhằm thay đổi vị thế, hướng tới bình đẳng giới theo Công ước CEDAW.
  • Kinh tế hộ gia đình và Phát triển kinh tế: Tiếp cận kinh tế hộ như đơn vị sản xuất và tiêu dùng cơ bản ở nông thôn; liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế (gia tăng quy mô, sản lượng) và phát triển kinh tế (biến đổi toàn diện về cơ cấu, chất lượng sống).
  • Cơ sở pháp lý và chính sách: Luận cương chính trị năm 1930, Hiến pháp năm 1946 (Điều 9), Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, Chỉ thị số 21/CT-TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, Nghị định số 19/2003/NĐ-CP và Chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng công thức tính mẫu Slovin với độ tin cậy 90% (sai số 10%). Tác giả lựa chọn 90 hộ điều tra đại diện tại 3 bản có điều kiện địa hình và kinh tế - xã hội đặc trưng: Bản Sọc (khu vực trung tâm xã), Bản Dinh (bản đặc biệt khó khăn), Bản Chè Mè (bản vùng ngoài). Mẫu được phân tầng đồng đều theo 3 nhóm kinh tế:
    • Nhóm hộ khá: 30 hộ
    • Nhóm hộ trung bình: 30 hộ
    • Nhóm hộ nghèo: 30 hộ
  • Phương pháp thu thập số liệu:
    • Số liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 (và giai đoạn 2015 – 2017) của UBND xã Mường Bang, báo cáo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Mường Bang và các tài liệu chuyên ngành.
    • Số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp 90 chủ hộ hoặc phụ nữ trong hộ thông qua bảng hỏi cấu trúc gồm câu hỏi đóng và mở, chia làm 7 nhóm nội dung (thông tin chung về hộ; phân loại ngành nghề và vốn vay; vai trò sản xuất; vai trò cộng đồng; nguồn tiếp cận thông tin; vai trò tái sản xuất - lâm nghiệp - kinh doanh dịch vụ; quan điểm về vai trò phụ nữ và giáo dục con gái).
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh giữa 3 nhóm hộ (khá, trung bình, nghèo) và so sánh chuỗi dữ liệu qua các năm để rút ra nhận định thực tế.

Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận được kết cấu thành 5 phần chính theo quy chuẩn học thuật của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên:

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa lý luận - học tập (rèn luyện kỹ năng điều tra xã hội học nông thôn), ý nghĩa thực tiễn (cung cấp cơ sở dữ liệu cho chính quyền và các đoàn thể địa phương) và các yêu cầu khoa học của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giới, vai trò giới, kinh tế hộ và các yếu tố chi phối vai trò phụ nữ nông thôn (tập quán phong tục, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận vốn, tiếp cận thông tin, yếu tố tâm lý chủ quan). Điểm luận thực trạng phụ nữ tham gia lực lượng lao động tại Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam; phân tích các vấn đề sức khỏe (suy dinh dưỡng, thiếu máu, lao động nặng nhọc), đời sống văn hóa tinh thần và năng lực kỹ thuật của phụ nữ nông thôn theo các công trình đã công bố.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định rõ đối tượng khảo sát là phụ nữ nông hộ tại xã Mường Bang; giới hạn thời gian (15/01/2018 - 30/05/2018); quy trình chọn mẫu phân tầng 90 hộ tại Bản Sọc, Bản Dinh, Bản Chè Mè; thiết kế 7 nhóm chỉ tiêu trong bảng hỏi phỏng vấn sơ cấp và các kỹ thuật xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm 5 nhóm nội dung chính:

1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Mường Bang

  • Tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên là 12.522,0 ha (trong đó đất nông nghiệp chiếm 8.809,63 ha, tương đương 70,35%; đất phi nông nghiệp chiếm 107,34 ha; đất chưa sử dụng là 3.605,03 ha chiếm 28,79%). Địa hình đồi núi dốc, độ cao trung bình 700m so với mực nước biển, mạng lưới thủy văn gồm 7 con suối chính (Khau Lài, Sọc, Do, Chùng, Ua, Dinh, Khoáng). Diện tích rừng khoanh nuôi bảo vệ đạt 9.609,1 ha.
  • Kinh tế: Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo với hai cây trồng cốt lõi là lúa và ngô. Năm 2017, do ảnh hưởng thiên tai (lũ lụt đầu tháng 10 và bão số 2 gây thiệt hại ước tính 81,8 tỷ đồng), diện tích thu hoạch bị ảnh hưởng.
Chỉ tiêu cây trồng Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Lúa (cả năm) 237,2 104,76 248,49
Ngô 1.115,7 35,00 390,49
Sắn 42,0 120,00 50,40
  • Chăn nuôi: Giai đoạn 2015 – 2017 ghi nhận biến động đàn gia súc gia cầm: đàn lợn đạt 1.453 con (năm 2017, tăng 201 con so với 2015); đàn gia cầm đạt 14.431 con; đàn trâu có xu hướng giảm nhẹ do cơ giới hóa thay thế sức kéo; đàn bò và đàn dê tăng quy mô nhỏ lẻ tại các hộ.
  • Xã hội: Dân số toàn xã là 4.588 người với 1.009 hộ thuộc các dân tộc Mường, H'mông, Dao, Kinh, Thái. Tổng số lao động trong độ tuổi là 3.207 người (chiếm 69,90% dân số). Cơ cấu lao động tập trung áp đảo ở nông - lâm nghiệp (88,08%), tiếp theo là thương mại - dịch vụ (6,51%), công chức - viên chức (1,94%), công nghiệp - xây dựng (1,28%) và các ngành khác (6,19%). Lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 10,6%. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 53%, cận nghèo chiếm 8,2%.

2. Đặc điểm nhân khẩu và kinh tế của các hộ điều tra

Kết quả khảo sát 90 hộ tại 3 bản phản ánh rõ nét tình trạng bất bình đẳng giới trong việc đứng tên chủ hộ và quản lý gia đình:

Chỉ tiêu khảo sát Hộ khá (n=30) Hộ TB (n=30) Hộ nghèo (n=30) Bình quân chung
Tỷ lệ nam làm chủ hộ (%) 92,85% 93,30% 82,35% 89,50%
Tỷ lệ nữ làm chủ hộ (%) 7,15% 6,70% 17,64% 10,49%
Tuổi bình quân chủ hộ (tuổi) 36 39 40 38
Tuổi cao nhất của chủ hộ (tuổi) 48 52 50 50
Tuổi thấp nhất của chủ hộ (tuổi) 26 25 25 25
Bình quân số khẩu/hộ (người) 5,35 4,13 3,70 4,39
Bình quân lao động/hộ (người) 3,35 2,82 3,00 3,05

Bình quân nam giới đứng tên chủ hộ chiếm tới 89,5%, trong khi phụ nữ chỉ chiếm 10,49% (cao nhất ở nhóm hộ nghèo với 17,64% do các trường hợp đơn thân hoặc hoàn cảnh đặc thù).

3. Thực trạng hoạt động và vai trò của phụ nữ trong kinh tế hộ

  • Tham gia đoàn thể: Xã có 1.470 phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt; trong đó có 853 người là hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ (đạt 58%).
  • Phân công lao động: Phụ nữ đảm nhiệm phần lớn các khâu thủ công, tốn nhiều thời gian trong sản xuất nông nghiệp (cấy, nhổ mạ, chăm sóc, làm cỏ, thu hoạch) và gánh vác toàn bộ công việc nội trợ, chăm sóc người già, nuôi dạy con cái (vai trò tái sản xuất), trong khi nam giới giữ vai trò đại diện giao dịch kinh tế lớn và đứng tên tài sản.

4. Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong việc phát huy vai trò phụ nữ

  • Thuận lợi: Lực lượng lao động nữ dồi dào, cần cù; nhận thức về học nghề và tham gia hội đoàn thể có chuyển biến; sự hỗ trợ từ các phong trào của Hội Liên hiệp Phụ nữ.
  • Khó khăn: Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật thấp; định kiến giới còn nặng nề; khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn chính thức do không đứng tên quyền sử dụng đất; thiếu thông tin thị trường và kỹ thuật nông nghiệp mới.

5. Đề xuất các giải pháp chủ yếu

Đề xuất 5 nhóm giải pháp: Nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới; Nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho phụ nữ; Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực (vốn vay, quyền sử dụng đất); Nâng cao tỷ lệ tham gia hoạt động cộng đồng và tổ chức chính trị - xã hội; Lồng ghép vấn đề giới vào các chương trình, dự án phát triển nông thôn tại địa phương.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện nghiên cứu và đưa ra hệ thống kiến nghị 3 cấp: đối với Nhà nước (hoàn thiện chính sách đất đai, tín dụng ưu đãi); đối với chính quyền và đoàn thể địa phương (mở lớp tập huấn kỹ thuật, tăng tỷ lệ cán bộ nữ); đối với người nông dân (thay đổi nhận thức, chia sẻ công việc gia đình giữa vợ và chồng).


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Phản ánh thực trạng bất bình đẳng giới trong quản trị hộ: Số liệu khảo sát thực tế tại 90 hộ cho thấy nam giới vẫn nắm giữ vị trí chủ hộ áp đảo (89,5%), trong khi tỷ lệ nữ làm chủ hộ chỉ đạt 10,49%. Nữ giới làm chủ hộ tập trung cao hơn ở nhóm hộ nghèo (17,64%) so với hộ khá (7,15%) và hộ trung bình (6,70%).
  2. Xác định cơ cấu lao động và sinh kế phụ thuộc nông nghiệp: Tại địa bàn xã Mường Bang, 88,08% lao động làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp; tỷ lệ qua đào tạo chỉ đạt 10,6%. Phụ nữ đóng vai trò lực lượng sản xuất trực tiếp chính trong các khâu canh tác cây lương thực (lúa cả năm 237,2 ha, ngô 1.115,7 ha) và chăn nuôi nông hộ.
  3. Chỉ ra gánh nặng kép của phụ nữ: Phụ nữ nông thôn tại địa bàn vừa phải đảm nhiệm lao động sản xuất tạo thu nhập, vừa gánh vác toàn bộ công việc nội trợ, chăm sóc gia đình và nuôi dạy con cái nhưng tiếng nói trong việc ra quyết định đầu tư kinh tế và quản lý nguồn lực lớn còn rất hạn chế.

Giải pháp và kiến nghị đề xuất

Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực và vị thế cho phụ nữ xã Mường Bang:

  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm thay đổi định kiến giới và tập quán lạc hậu tại các bản vùng cao.
  • Tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng trọt - chăn nuôi phù hợp với trình độ tiếp thu của lao động nữ dân tộc thiểu số.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, bình đẳng trong việc đứng tên quyền sử dụng đất và tài sản thế chấp.
  • Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy, chính quyền và ban quản lý thôn bản.
  • Lồng ghép chỉ tiêu giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của xã Mường Bang.

Đóng góp của đề tài

  • Khóa luận cung cấp bức tranh số liệu sơ cấp và thứ cấp cụ thể, chân thực về thực trạng phân công lao động, quản lý kinh tế và vai trò của phụ nữ tại một xã vùng sâu đặc thù của tỉnh Sơn La năm 2018.
  • Làm tài liệu thực tiễn phục vụ công tác chỉ đạo của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Mường Bang và UBND xã trong việc xây dựng các chương trình giảm nghèo và bình đẳng giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian thực tập và nguồn lực, quy mô khảo sát dừng lại ở 90 hộ phân bố tại 3 bản (trong tổng số 9 bản của xã); các phân tích kinh tế lượng chuyên sâu về đóng góp thu nhập cụ thể bằng tiền của phụ nữ chưa được lượng hóa chi tiết qua các mô hình hồi quy.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu điều tra trên toàn bộ 9 bản của xã Mường Bang; ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường chính xác tỷ lệ đóng góp của lao động nữ vào tổng thu nhập hộ gia đình nông thôn; nghiên cứu sâu về tác động của biến đổi khí hậu và di cư lao động đến phụ nữ nông thôn miền núi.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Kinh tế Nông nghiệp, Xã hội học, Giới và Phát triển; cán bộ Hội Phụ nữ các cấp và cán bộ quản lý nông nghiệp nông thôn vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
  • Nội dung giá trị: Khung lý luận về phân tích giới trong nông nghiệp; phương pháp thiết kế bảng hỏi khảo sát nông hộ đa dân tộc; hệ thống bảng số liệu thực địa chi tiết về đất đai, cây trồng, chăn nuôi và cơ cấu chủ hộ tại địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng công thức nào để xác định cỡ mẫu khảo sát nông hộ?

Tác giả sử dụng công thức chọn mẫu Slovin với độ tin cậy 90% và sai số cho phép 10%. Từ tổng thể các hộ trong xã, tác giả chọn ra mẫu 90 hộ điều tra thực tế tại 3 bản đại diện (Bản Sọc, Bản Dinh, Bản Chè Mè), chia đều thành 30 hộ khá, 30 hộ trung bình và 30 hộ nghèo.

2. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ hộ tại địa bàn khảo sát xã Mường Bang là bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát 90 hộ năm 2018, tỷ lệ nữ làm chủ hộ đạt bình quân 10,49% (nam giới chiếm 89,50%). Tỷ lệ nữ làm chủ hộ cao nhất ở nhóm hộ nghèo với 17,64%, tiếp theo là nhóm hộ khá (7,15%) và thấp nhất ở nhóm hộ trung bình (6,70%).

3. Cơ cấu lao động tại xã Mường Bang năm 2017 có đặc điểm gì nổi bật?

Lao động tại xã Mường Bang phân bố tập trung cao độ trong ngành nông - lâm nghiệp, chiếm tới 88,08% tổng lực lượng lao động. Các ngành thương mại - dịch vụ chiếm 6,51%, cán bộ công chức viên chức chiếm 1,94%, công nghiệp - xây dựng chiếm 1,28% và các ngành khác chiếm 6,19%. Lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 10,6%.

4. Khái niệm Giới và Giới tính được tác giả phân biệt dựa trên tài liệu lý thuyết nào?

Khóa luận căn cứ theo tài liệu của SEAGEP (2001) và Tài liệu tập huấn về bình đẳng giới (2008). Trong đó, giới tính là khái niệm sinh học bẩm sinh, đồng nhất và không đổi; còn giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ được hình thành do giáo dục, mang tính đa dạng và có thể thay đổi theo tiến trình phát triển.

5. Tỷ lệ tham gia Hội Liên hiệp Phụ nữ của phụ nữ xã Mường Bang năm 2017 đạt mức nào?

Toàn xã Mường Bang có 1.470 phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể, trong đó có 853 người tham gia sinh hoạt và là hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đạt tỷ lệ 58%.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Phùng Thị Diệp đã phản ánh có hệ thống thực trạng vai trò và các rào cản đối với phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ tại xã Mường Bang, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Thông qua phương pháp điều tra thực địa 90 hộ gia đình kết hợp số liệu thống kê địa phương giai đoạn 2015 – 2017, nghiên cứu chỉ ra sự bất đối xứng giữa khối lượng lao động thực tế mà phụ nữ đóng góp với vị thế quản lý kinh tế hộ và mức độ tiếp cận nguồn lực còn hạn chế. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển kinh tế nông thôn tại địa phương.