Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng, 6 tiết. Chƣơng 1: Bình đẳng giới – một bộ phận hợp thành trong tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng Chƣơng 3: Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vào việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong những thập kỷ qua, là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp, nhiều giới và nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Trong đó, phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và đo lƣờng về sự tiến bộ xã hội và bình đẳng giới.
Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn trong việc thúc đẩy bình đẳng giới nói chung và sự tham gia của cán bộ nữ vào công tác lãnh đạo, quản lý ở các cấp nói riêng. Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã quy định các biện pháp cụ thể để thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị (Điều 5). + Từ góc độ lãnh đạo của Đảng, chỉ tính từ thời kỳ đổi mới đến nay, đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về công tác cán bộ nữ đƣợc ban hành nhƣ Chỉ thị số 44-CT/TW (năm 1984) [2]; Chỉ thị số 37-CT/TW (năm 1994) về một số 7 vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới [3]; Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc (Nghị quyết này đã xác định các chỉ tiêu cụ thể: Đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%; các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ) [9]. Gần đây, Chính phủ đã ban hành Chƣơng trình hành động giai đoạn đến 2020 nhằm thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 1/12/2009) [6]; Kết luận của Ban Bí thƣ về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Kết luận số 55-KL/TW ngày 18 tháng 01 năm 2013) [5].
+ Dƣới góc độ của các công trình nghiên cứu, trong thời gian qua đã có những nghiên cứu về vấn đề này dƣới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau: Nghiên cứu của GS Lê Thi “Vài nét bàn về việc thực thi công bằng, dân chủ và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay” (2011), đã hệ thống hóa, đánh giá về việc thực thi công bằng, dân chủ gắn với vấn đề bình đẳng nam nữ ở nƣớc ta hiện nay, qua đó nâng cao vai trò trách nhiệm của cá nhân, trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc thực thi vấn đề này [57]. Đề tài nghiên cứu Đánh giá chính sách bình đẳng giới dựa trên bằng chứng (2013) của TS Võ Thị Mai, đã phân tích những vấn đề lý luận và cách tiếp cận nghiên cứu chính sách về bình đẳng giới, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách về bình đẳng giới; đồng thời đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng chính sách về bình đẳng giới để thực hiện bình đẳng giới tốt hơn nữa trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nƣớc ta hiện nay [33]. Bài viết Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở nước ta (2005) của tác giả Võ Thị Hồng Loan, Đặng Ánh Tuyết, đã phân tích, 8 đánh giá nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng nam nữ, trong đó nguyên nhân căn bản nhất đó là kinh tế và đề ra các giải pháp nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề bình đẳng giới [29]. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa với bài viết Thực hiện bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước (2011) đã đánh giá những thành tựu đạt đƣợc về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ trong thời gian qua, đồng thời đƣa ra những giải pháp kiến nghị với Đảng, Nhà nƣớc tăng cƣờng sự lãnh đạo để thực hiện hiệu quả công tác phụ nữ [19].
Với bài viết Bình đẳng giới và công tác phụ nữ ở Việt Nam hiện nay (2013) của tác giả Nguyễn Kim Quý, đề cập đến những thành tích và đóng góp của phụ nữ trên các lĩnh vực, những hạn chế trong công tác phụ nữ và đề ra những giải pháp cụ thể thực hiện hiệu quả vấn đề bình đẳng giới và công tác phụ nữ [51]. Đề cập đến các yếu tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý, luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Bích Tuyền với đề tài “Sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay” (2014) đã chỉ ra đƣợc 3 yếu tố cản trở phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý. Đó là việc thực thi chính sách về bình đẳng giới còn hạn chế, vẫn còn định kiến khắt khe đối với phụ nữ và bản thân nữ cán bộ vẫn còn chƣa tự tin khi tham gia lãnh đạo, quản lý. Trên cơ sở phân tích các yếu tố cản trở, tác giả đƣa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm làm hạn chế những yếu tố cản trở sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Tháp [61].
Đối với thành phố Đà Nẵng, từ trƣớc đến nay, thành phố cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lao động, việc làm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, gia đình nhƣ: “Một số giải pháp ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình đối với người phụ nữ ở thành phố Đà Nẵng (2008)”; “Định hướng nghề nghiệp cho phụ nữ trong độ tuổi từ 18- 35 ở vùng di dời giải 9 tỏa”(2010), ngoài ra từ năm 2012 -2013, Hội LHPN thành phố cũng đã tiến hành “Khảo sát thực trạng Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo trên địa bàn thành phố”, “Khảo sát nhận thức của xã hội về Bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã, phường”; năm 2015, Hội LHPN thành phố đang tiến hành “Khảo sát thực trạng bình đẳng giới trong gia đình”. + Các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã có những liên quan nhất định đến đề tài luận văn, nhƣng đều chƣa nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận cũng nhƣ thực tiễn để đề ra các giải pháp khả thi thực hiện bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện và thúc đẩy phụ nữ tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý ở thành phố Đà Nẵng. Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay” là công trình khoa học độc lập, có tham khảo nhƣng không trùng lắp với các công trình nghiên cứu trên, đề tài nghiên cứu tƣơng đối có hệ thống cơ sở lý luận về bình đẳng giới, đánh giá thực trạng thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng hiện nay. 10 CHƢƠNG 1 BÌNH ĐẲNG GIỚI – MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH TRONG TƢ TƢỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ 1.
TƢ TƢỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ - CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CẤU TRÚC 1. Các khái niệm, công cụ liên quan đến giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới a. Khái niệm về giải phóng phụ nữ Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, giải phóng nghĩa là làm cho đƣợc tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, ràng buộc [71]. Giải phóng phụ nữ là làm cho ngƣời phụ nữ đƣợc tự do, đƣợc thoát khỏi địa vị nô lệ, thoát khỏi tình trạng bị áp bức và tình trạng bất bình đẳng với nam giới về mặt kinh tế - xã hội.
Giải phóng phụ nữ phải toàn diện, đồng bộ và triệt để. Giải phóng phụ nữ không chỉ là giải phóng thân thế, giải phóng tƣ duy, mà giải phóng cho họ cái gọi là quyền bình đẳng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội, phải tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thì mới đảm bảo quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Do vậy, giải phóng phụ nữ trƣớc hết phải xóa bỏ ách áp bức dân tộc, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, đem lại hạnh phúc, tự do, dân chủ cho con ngƣời; làm cho ngƣời phụ nữ phát huy đƣợc đầy đủ phẩm giá con ngƣời của mình.
Theo chủ nghĩa Mác, trình độ giải phóng phụ nữ là một tiêu chí phản ánh trình độ giải phóng xã hội nói chung. Muốn thực sự giải phóng phụ nữ thì phải xóa bỏ nguyên nhân kinh tế đẻ ra mọi hình thức áp bức, bóc lột. Một mặt, sự kết hôn không còn bị lợi ích tƣ hữu chi phối; gia đình đƣợc xây dựng trên cơ sở bình đẳng giữa nam và nữ về quyền và trách nhiệm. Mặt khác, xã 11 hội tổ chức cho phụ nữ đƣợc học hành, lao động và cống hiến năng lực, phát triển dịch vụ công cộng để giảm nhẹ các dạng lao động trong nhà, dành thì giờ để nâng cao trình độ văn hóa và phát triển hài hòa nhân cách cho mỗi ngƣời.
Ngày nay, giải phóng phụ nữ vẫn là một nhiệm vụ trọng đại, bức thiết có ý nghĩa toàn cầu. Bình đẳng giới Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, đƣợc tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hƣởng nhƣ nhau về thành quả của sự phát triển đó [30]. Định kiến giới, phân biệt đối xử về giới - Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. - Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.