Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA MỚI 1.Tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại Khi Pháp mang danh “khai hóa văn minh” tới Việt Nam, nhiều người trong số họ đã rất ngạc nhiên khi nhận thấy đây là một đất nước rất giàu truyền thống văn hóa chứ không phải là một dân tộc sơ khai kém hiểu biết như họ mường tượng. Trong bài Nước An Nam dưới con mắt người Pháp, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ghi lại nhận xét của một số người Pháp về đất nước và con người Việt Nam: “Trong một bản tuyên bố, ông Bô lúc đó là toàn quyền Đông Dương, nói với người An Nam như thế này: “Hỡi nhân dân An Nam! Chúng ta đến nước các ngươi là nối gót ông cha chúng ta đã từng lui tới bờ biển nước các ngươi từ hai thế kỷ nay. Chúng ta đến đây cũng với một tinh thần mạo hiểm và một ý muốn khai hoá. Không hiểu phong tục và lịch sử nước các ngươi, chúng ta tưởng đem đến cho một dân tộc dã man những ân huệ của một nền văn minh cao cả.
Chúng ta đã đi khắp đồng ruộng, núi đồi và ở đâu chúng ta cũng khen cho sự cần cù không mệt mỏi của các ngươi. Chúng ta đi qua khắp kinh kỳ, ở đâu chúng ta cũng thấy có cơ sở tổ chức đáng khen. Chúng ta đã vào nhà các ngươi và chúng ta cũng thấy trong gia đình trên kính dưới nhường, thờ phụng tổ tiên. Chúng ta đã đi thăm các đền chùa, được đọc những câu châm ngôn làm vẻ vang cho nhân loại”.
Ông Đờ Puvuốcvin cũng viết: “Chúng ta thấy ở đây cả một nền 8 z văn minh, mọi thứ đều xây dựng từ lâu. Nghệ thuật, khoa học, kể cả khoa học quản lý Nhà nước đều đã phát triển mạnh mẽ. Luật pháp, cổ phong, tôn giáo, văn học, tất cả đều đã hoàn chỉnh và hoà hợp với nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ, đã được điều hoà và ngày càng hoàn hảo thêm. Những vết tích man rợ đã mất đi từ lâu, dân tộc này đã sống trong một xã hội thuần thục có tổ chức trong khi những người phương Tây còn ở tình trạng bán khai.
Yêu mến quê hương, quyến luyến gia đình, tôn kính tổ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính nghĩa, ham thích khoa học, coi trọng lời nói thánh hiền, thương yêu nòi giống, tôn kính lẽ phải; ghét xa hoa, không hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh; đó là những đức tính răn dạy trong sách thánh hiền, lưu lại trong cổ phong và ghi thành luật pháp; hiện nay đó cũng là những đặc điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ luôn luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính; người An Nam bình thường mà người ta gặp bất cứ ở đâu cũng đều như vậy cả. Trong đám người bình dân, người ta cũng thấy những thuần phong mỹ tục ấy, cả ở những người mà xưa nay chúng ta thường quen gọi là bọn côn đồ, quân ăn cướp” [49, tr. Trong tác phẩm Đông Dương (1923-1924), Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Người An Nam rất hiếu học. Trong các tầng lớp xã hội, người sĩ phu chiếm địa vị hàng đầu.
Có con học giỏi là một vinh hạnh cho cha mẹ. Cho nên, dù có nghèo đói đến đâu, cha mẹ cũng cố tìm cách cho con cái được học hành. “Nửa bụng chữ bằng một hũ vàng” là một câu tục ngữ biểu hiện nhiệt tình ham muốn có học thức của dân tộc An Nam. Ở làng xã nào cũng có trường công và trường tư.
Chữ Nho rất khó học thế mà hầu hết người An Nam đều biết “ký tên bằng chữ Hán”. Nạn mù chữ hầu như không còn. Người Pháp đến đã làm đổi thay tất cả” [49, tr. 9 z Hiện nay, khi bàn đến những truyền thống văn hóa người Việt Nam, hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ đề cập tới những mặt tốt đẹp: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) viết: “Đó là ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước, kiên cường, bất khuất… tạo thành động lực mạnh mẽ của đất nước; là tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng dân tộc; thủy chung, khoan dung, độ lượng; là thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú văn hóa dân tộc…” [3, tr.
Nhưng có lẽ ai cũng phải thừa nhận rằng đã là con người thì đều có mặt tốt và mặt xấu chứ rất khó có thể tìm ra nhân vật nào là hoàn toàn tốt cũng như hoàn toàn xấu về mặt thói quen, tính nết. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên trong tác phẩm nổi tiếng Văn minh Việt Nam năm 1944 đã thẳng thắn chỉ ra ảnh hưởng khí hậu đối với tính nết của người Việt: “Môi trường vật chất độc hại làm sa sút sức khỏe này cũng tác động chẳng kém đến tính chất người Việt Nam. Tác động trực tiếp nhất và cũng bền bỉ nhất của sức nóng thường xuyên, đó là thần kinh uể oải làm cho con người buồn ngủ và lười nhác. Người ta hay nhận xét, và chẳng phải không có lý, rằng nhược điểm lớn nhất của người Việt Nam là lười biếng, hay ít nhất cũng dễ có khuynh hướng buông trôi” [27, tr.
Nhược điểm này thường được biết đến với câu nói hết sức quen thuộc: “Nước đến chân mới nhảy”. Về khía cạnh tiêu cực của người Việt, thậm chí, “có những người Pháp coi người nước Nam là thiếu thành thật; coi người nước Nam là xảo quyệt và đạo đức giả; là những kẻ ăn cháo đá bát vô ơn bội nghĩa; là hèn hạ khúm núm trước người lớn và kẻ mạnh trong khi chính người nước Nam lại ức hiếp tàn bạo những người nhỏ yếu hơn mình; coi người nước Nam khi có một chút quyền lực 10 z thường lạm dụng ngay và tỏ ra tàn nhẫn với đồng bào của mình hơn cả mức tàn nhẫn của kẻ thống trị ngoại bang; nhìn thấy các quan chức nước Nam thường làm sai chức vụ và rất hay nhận hối lộ; thấy những quan lại đó ức hiếp dân quê, thấy người quản lý ngân sách thì biển thủ công quỹ. Tóm lại, đó là chỉ nhìn một dân tộc chẳng có gì là thú vị, chẳng có bất kỳ một nét độc đáo nào. Một dân tộc quay cóp và bắt chước! Các tinh hoa của dân tộc này chỉ là những kẻ kiêu căng và đầy tham vọng, những kẻ chỉ mơ tưởng đánh đuổi người Pháp đi để chiếm lấy vị trí của họ và mặc sức bóp nặn dân tộc khốn khổ của mình” [72, tr.
Và ngay Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhận xét: “Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng” [58, tr. Vậy, những khía cạnh này ảnh hưởng thế nào đến Hồ Chí Minh, và đâu là những nhân tố quyết định hình thành nhân cách Hồ Chí Minh? Tôi cho rằng, ngay khi mới ra đời, Hồ Chí Minh không tránh khỏi các ảnh hưởng xấu của môi trường khí hậu và môi trường xã hội. Nhưng điều khác biệt giữa Hồ Chí Minh với những người khác, điều tạo nên một nhân vật Việt Nam vĩ đại mang tầm vóc thế kỷ XX, điều mà cả dân tộc ta phải học tập, đó là Hồ Chí Minh luôn luôn nhận thức rõ những khiếm khuyết trong bản thân để chế ngự và luôn luôn quán chiếu những phẩm chất tốt đẹp trong con người mình để tự rèn luyện mình. Hồ Chí Minh, một con người có ý chí vĩ đại, cả cuộc đời Người là một tấm gương tự đào luyện chính bản thân mình.
Những ai được tiếp xúc với Người đều nhận định: “Trong những sự rèn luyện về nhiều mặt, Bác chú ý tạo dần thành nếp quen. Nếp quen nào tốt rồi cứ giữ mãi hàng chục năm. Chỉ khi tuổi cao, chuyển sang một cách tập khác, mới bỏ thói nếp trước không bao giờ vì thiếu kiên trì mà bỏ” [32, tr. 11 z Bằng trải nghiệm cả cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các thế hệ sau: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi” [58, tr.
Người khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [56, tr. Với một nhân cách vĩ đại như vậy, không có gì là lạ khi chúng ta được nghe tới những nhận định về Người như: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó” [64, tr.
“Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đảng khỏi trái đất này” [25, tr. Modagat Ahmed – Giám đốc UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương - Chủ tịch hội đồng hoà bình thế giới - Đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO) Viện sĩ V.M Xôn Xép, người đã chứng kiến công cuộc cải tổ ở Liên Xô nói: “Năm tháng sẽ qua đi, nhưng toàn nhân loại tiến bộ nhớ mãi tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [9, tr. Người không những là kết tinh trí tuệ thời đại, Người còn là một nhà văn hóa xuất sắc của dân tộc, là hiện thân của những tinh hoa trong truyền thống văn hóa dân tộc. Trần Văn Giàu đã từng nêu lên 7 giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam là yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa, qua đó khẳng định: Hồ Chí Minh là kết tinh của các giá trị truyền thống và đạo đức cách mạng Việt Nam [16, tr.
Với hành trang 12 z đó, Người xứng đáng là người con ưu tú của dân tộc, vững vàng dấn thân đi tìm con đường tương lai cho đất nước năm 1911. Là người Phương Đông, lẽ dĩ nhiên, Hồ Chí Minh cũng thấm nhuần những ảnh hưởng sâu sắc từ cái nôi văn hóa lớn này của nhân loại. Các tài liệu nghiên cứu cho thấy, Phật giáo, Nho giáo và chủ nghĩa Tam Dân là ba luồng văn hóa có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về văn hóa của Hồ Chí Minh nói riêng.