phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng, 9 tiết. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong những năm đổi mới vừa qua, đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu nhƣ̃ng vấ n đề liên quan đếđề n tài luận án: Nghiên cứu tư tưởng triết học trong các học thuyết tôn giáo là chủ đề lớn đƣợc nhiều nhà khoa học; đặc biệt là các nhà triết họcquan tâm đi sâu nghiên cứu nhằm làm rõ vấn đề bản thể luận, nhân sinh quan, nhận thức luận trong các học thuyết tôn giáo. Đồng thời, chỉ ra những nguyên tắc, phƣơng pháp luận khi tiếp cận,nghiên cứu đối với các học thuyết tôn giáo.Qua đó, góp phần định hƣớng nhân sinh quan cho các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáokhi tham gia thực hành đạo đức tôn giáo trong đời sống xã hội.
Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo nhằm làm rõ những quan điểm , nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo và việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong cách mạng xã hội chủ nghĩa;hay những vấn đề lý luận và thực tiễn về tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam nhằm làm rõ tình hình tôn giáo và xu hƣớng biến động của tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong việc giải quyết vấn đề tôn trên thế giới, khu vực. Từ đó, đƣa ra những nguyên tắc có tính chất phƣơng pháp luận trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Nghiên cứu phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan là vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhằm phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa tôn giáo với tín ngƣỡng và mê tín dị đoan.
Qua đó, góp phần định hƣớng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam hiện nay là chủ đề đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,để làm rõ vị trí, vai trò và sự ảnh hƣởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam thông qua giáo lý, giáo luật, nghi lễ và các tổ chức giáo hội. Qua đó, đề xuất những phƣơng hƣớng chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa tôn giáo trong đời sống xã hội Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 10 z Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kế t tôn giáođược nhiều nhà khoa học quan tâm, kể từ khi có NQ/24/TW/1990 ban hành khẳng định: tôn giáo là nhu cầu tinh thần không thể thiếu đƣợc của quần chúng nhân dân lao động và tôn giáo có nhiều ƣu điểm tiến bộ phù hợp với công cuộc dựng xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy,nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kế t tôn giáo nhằm làm rõ mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phƣơng pháp đoàn kết tôn giáo; đặc biệt là những quan điểm, chính sách của Hồ Chí Minh vềtôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo và không tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân; hay chủ đề tư tưởng Hồ Chí Minh vềtôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong lòng dân tộc; đồng thời chỉ ra mục tiêu, lý tƣởng của các tôn giáo phù hợp với mục tiêu, lý tƣởng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua đó, khẳng định tôn giáo luônđồng hành cùng dân tộc trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; hay nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung tôn giáo nhằm làm rõ quá trình hình thành và phát triển văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh trên lĩnh vực tôn giáo và nội dung khoan dung tôn giáo của Ngƣời. Đồng thời, chỉ ra giá trị khoan dung tôn giáo trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh góp phần cứu nƣớc, giải phóng dân tộc, giai cấp, con ngƣời. Nghiên cứu đường lố i, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tôn giáođƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm, kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), nhằm làm rõ các quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nƣớc về tôn giáo ở Việt Nam; đặc biệt làm rõ mục đích của việc quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động của các tổ chức và cá nhân tôn giáo là để đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo và không tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân một cách hợp hiến và hợp pháp.
Đồng thời, đấu tranh chống lại các hành vi lợi dụng quyền tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân làm phƣơng hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Nghiên cứu tư tưởng nhân văn, đạo đức Hồ Chí Minhđược nhiều nhà khoa học quan tâm, từ khi Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07 tháng 11 năm 2006 về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,nhằm làm rõ các giá trị chuẩn mực văn hóa, đạo đức của Hồ Chí Minh trong quan hệ ứng xử với mình, với 11 z ngƣời, với việc; đặc biệt là việc thực hành đạo đức cánh mạng trong đời sống xã hội, coi đó là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo. Khi tiếp cận với những chủ đề nghiên cứu trên, tác giả đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: Phƣơng pháp thu thập tài liệu; phƣơng pháp lịch sử - lôgíc; phƣơng pháp hệ thống; phƣơng pháp phân loại tài liệu theo nhóm. nhằm hệ thống hóa, khái quát hóa những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án.
Qua đó, tác giả kế thừa, bổ sung và phát triển luận án nghiên cứu khoa họcnhằm đạt kết quả cao. Tổng quan tƣ liệu, tài liệu liên quan đến đề tài luận án 1. Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về chủ nghĩa nhân văn và giá trị nhân văn của Hồ Chí Minh Trong hệ thống tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, tƣ tƣởng nhân văn hay (chủ nghĩa nhân văn), đặc biệt là chủ nghĩa nhân văn cộng sản chủ nghĩa đã góp phần thiết thực vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, con ngƣời. Vì vậy, tƣ tƣởng nhân văn của Hồ Chí Minh không chỉ là tài sản văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản văn hóa tinh thần của nhân loại.
Cho nên, đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nƣớc đi sâu nghiên cứu nhƣ: Cuốn sách của Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) (2005),Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả chỉ ra, tƣ tƣởng về văn hóa và con ngƣời trong lịch sử đƣợc Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy vào trong tiến trình cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, con ngƣời. Từ đó, các tác giả chú trọng vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con ngƣời vào việc phát triển văn hóa và xây dựng con ngƣời Việt Nam thông qua chiến lƣợc “trồng người” nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay.Tuy nhiên, các tác giả chƣa chỉ ra chủ thể của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người trong đời sống xã hội và những yêu cầu đối với việc vận dụng hiện nay. Cuốn sách của Đinh Xuân Lâm,Bùi Đình Phong(đồng chủ biên)(2007),Văn hóa và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trƣớc tiên, các tác giả chỉ ra thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là 12 z thắng lợi chính trị; đồng thời cũng là thắng lợi của sức mạnh văn hóa- đó là lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa làm đầu, dùng chí nhân thay cƣờng bạo. Từ đó, các tác giả liên hệ chỉ ra giá trị trƣờng tồn trong bản “Tuyên ngôn độc lập” và “Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tính chất nhƣ một văn kiện, hàm chứa giá trị văn hóa to lớn đó là: Văn minh thắng tàn bạo thực dân. Sức mạnh của văn hóa không chỉ là sức mạnh vật chất của con người mà còn là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của văn hóa tương lai; đồng thời các tác giả cũng nhấn mạnh đến triết lý phát triển của Hồ Chí Minh đó là: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.Tuy nhiên, các tác giả, chƣa đề cập nhiều đến việc vận dụng văn hóa và triết lý phát triển trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Cuốn sách của Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên)(2009),Hồ Chí Minh văn hóa và phát triển, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
Các tác giả chỉ ra, ở Hồ Chí Minh văn hóa là quá trình kế thừa, chắt lọc và tiếp biến những giá trị văn hóa của dân tộc và thời đại. Qua đó, các tác giả khẳng định những giá trị tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã đƣợc thời gian thẩm định, không chỉ là tài sản riêng của dân tộc Việt Nam mà còn trở thành tài sản chung của toàn nhân loại. Đây là cuốn sách thể hiện chiều sâu giá trị tƣ tƣởng nhân văn Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển, góp phần hình thành con ngƣời Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Cuốn sách của Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả chỉ ra, văn hóa là do con ngƣời sáng tạo ra, là một hiện tƣợng lịch sử độc đáo của nhân loại. Con ngƣời chủ động tạo ra văn hóa, đồng thời tiêu dùng và cảm thụ văn hóa. Từ đó, tác giả nhấn mạnh trong thời đại hội nhập và giao lƣu quốc tế hiện nay, vấn đề văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc luôn đƣợc đặt lên hàng đầu; đồng thời tác giả phân tích nếu không biết tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại thì sự hòa tan, mất gốc là điều không thể tránh khỏi đối với một quốc gia, dân tộc.