CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ 1. Quan niệm về thơ 1. Một số ý kiến của các nhà lý luận trên thế giới Thơ vốn là một khái niệm quen thuộc trong văn học nghệ thuật, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thơ cũng như các cách phân loại, định nghĩa khác nhau.
So với một số thể loại, thơ có bề dày lịch sử lâu đời, thời điểm bắt đầu của thơ cũng được đánh giá là lâu dài hơn. Thơ được định nghĩa sớm nhất là từ nhà triết học Hy Lạp Aristote (384- 322) trước Công Nguyên. Theo Aristote, thơ chính là “sự mô phỏng động thái con người, được biểu hiện trong ngôn ngữ, với sự trợ giúp của hòa âm và nhịp điệu”. Theo cách hiểu này có thể thấy, nhà triết gia này nhấn mạnh đến yếu tố bao quát tổng hợp toàn bộ hiện thực cuộc sống xung quanh và bên trong thế giới con người.
Vào thế kỷ XIX, người được cả thế giới biết đến với biệt danh “Shelley điên rồ” từng nhiều lần đưa ra những nhận định về thơ như sau: “Thơ thực sự là một điều gì đó rất thiêng liêng. Nó vừa là trung tâm, đồng thời là chu vi của tri thức, là bao gồm các khoa học, nguồn gốc và thành quả của các hệ thống tư tưởng. Đó là sự hồi sinh của mùa xuân…”. Emily Dickinson, một cây bút xuất sắc về thể loại thơ sinh ra và lớn lên ở đất nước Mỹ, là một trong những nhà thơ để lại di sản lên đến 2000 bài thơ độc đáo và ấn tượng.
Nói về thơ, bà có cái nhìn rất sâu sắc như sau: “Nếu một cuốn sách làm cho tôi cảm thấy giá lạnh mà không một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm, tôi biết đó là thơ. Nếu tôi cảm thấy mình đang cất cánh, tôi cũng biết đó là thơ. Đó là cách duy nhất để tôi biết những điều này, liệu còn cách nào khác nữa không?”. Eliot, người từng đoạt giải Nobel 1948 cũng là nhà thơ vĩ đại của nước Anh thế kỷ XX.
Ông nói: “Thơ không phải là một vòng quay chậm rãi 11 của cảm xúc mà là một lối thoát của cảm xúc, không phải là sự biểu hiện của tính cách, nhưng một lối thoát cho cá tính. Nhưng, tất nhiên là chỉ những người có cá tính và cảm xúc biết ý nghĩa của việc muốn thoát khỏi những điều này.” Ở Trung Quốc, khái niệm thơ lần đầu tiên được biết đến chính là các tác phẩm trong Kinh Thi, khoảng thế kỷ XII trước Tây Lịch. Với những ngữ điệu du dương, từ ngữ hoa mỹ, nội dung hướng đến nỗi lòng con người, cảnh vật, tâm tư tình cảm, các mối quan hệ, nhân sinh thế thái… được các bậc đế vương sử dụng. Có thể nói, thơ đối với Trung Quốc thời kỳ này, thơ mang tính chất quý tộc, từ âm vực cho đến ngữ điệu đều được dùng một cách bài bản và chỉn chu.
Ở Việt Nam, xuất phát từ những bài tục ngữ ca dao và hình thức truyền miệng, thơ trong khoảng thời gian đầu dưới hình thức truyền miệng không hướng tới sự cao sang quyền quý, mà tập trung thể hiện và mô tả cuộc sống của dân gian. Thông qua các kinh nghiệm đúc kết, trau dồi, người bình dân mang hơi hướng và giọng điệu trong sáng, nói lên tiếng nói của tâm hồn, lưu truyền từ đời này sang đời khác, gọi một cách nôm na là “mật mã” đời sống. Lý giải về bản chất thơ, các tác giả nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu". Nhà thơ Tố Hữu từng nói: “Mỗi khi có gì chất chứa trong lòng, không nói ra, không chịu được thì lại cần thấy làm thơ”.
Thơ chính là thứ con người tìm đến để giải tỏa giãi bày tâm sự những điều chất chứa, ẩn sâu, giống như lời của trái tim. Thơ là một thể loại, một kho tàng tri thức, kết tinh trí tuệ của lời ăn tiếng nói hằng ngày cho đến tiếng lòng, đi từ bình dân cho đến nghệ thuật. Thơ thể hiện phạm vi phổ biến sâu rộng, dẫn qua các mối liên tưởng, tưởng tượng chạm đến tiềm thức và tâm hồn của con người. Không có một định nghĩa chính xác nào khẳng định thơ là gì, mỗi nhà văn nhà thơ, hoạt động 12 nghệ thuật lại có cái nhìn đánh giá và đưa ra các khái niệm, góc nhìn khác nhau về thơ.
Đối với Voltaire, “thơ là âm nhạc của tâm hồn nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”, có muôn vàn giai điệu ngân nga, trầm bổng, vui tươi, não nề, giận hờn. Còn đối với Ferlinghetti, nhà thơ Hoa Kỳ nổi tiếng thì: “Không nghi ngờ gì nữa, có bao nhiêu bài thơ thì có bấy nhiêu định nghĩa, thậm chí còn nhiều hơn bởi vì các giáo sư, các nhà phê bình thơ còn đông hơn các nhà thơ”. Thế nhưng cũng qua đây, chúng ta hoàn toàn có thể thấy, bất kỳ giai đoạn nào, nhà thơ nào, nhà phê bình nào cũng luôn khao khát được lý giải thơ là gì? Thơ thể hiện điều gì? Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm của các học giả, nhà thơ, các nhà nghiên cứu về thơ như sau: - Nhà thơ, nhà triết gia Ấn Độ R.Tagor đề cập đến giá trị mà thơ mang lại là vô cùng quan trọng, không chỉ tác động đến tâm hồn con người mà còn tạo ra những nét đẹp mới. Ông viết: “Thơ dạy con người ta cảm nhận đời sống, một cách tinh tế và sâu sắc.
Thơ mở rộng và nâng cao tâm hồn người đọc. Thơ giáo dục con người về cái đẹp”[34, tr. - Nhà triết học gia lừng danh C.Mac nói về thơ: “Thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình”. Ông nhấn mạnh thơ là niềm vui, mang đến một luồng gió mới cho loài người, và cũng là sản phẩm tinh thần tuyệt vời nhất của nhân loại.
- Nhà thi pháp học Nga, M.Bakhin bình về thơ: “Thơ là tiếng nói đọc bạch, chẳng hạn một bài thơ diễn đạt một nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, một suy tưởng”. Thơ thay cho tiếng lòng của con người, cho trái tim con người, cho dù là cảm xúc gì cũng có thể diễn đạt qua thơ, giống như một phương thức biểu đạt [34, tr. - Trung Quốc cách đây khoảng 1.500 năm, tác giả Lưu Hiệp đã từng nếu ra các tiêu chí để cấu thành một bài thơ trong tác phảm Văn tâm điêu long 13 của mình, đó là: “hình văn, thanh văn và tình văn”. Nghĩa là ca từ đẹp, thanh điệu và cảm xúc trong đó yếu tố quan trọng và nắm vị trí đầu tiên chính là tính thẩm mỹ, đây chính là cốt lõi làm nên thơ ca [34, tr.
- Nhà thơ Bạch Cư Dị thời Đường, Trung Quốc cũng đưa ra quan niệm riêng về thơ ca: “Cái gọi là thơ thì cảm hóa người ta không gì bằng tình cảm, cũng không thể bắt đầu cái gì khác ngoài ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng âm thanh. Không gì sâu sắc bằng nghĩa lý. Gốc của thơ là nghĩa lý” Qua đây ông muốn khẳng định, ngôn ngữ chính là yếu tố đặc biệt quan trọng để xây dụng lên kết cấu của bài thơ và làm nên tính chất thẩm mỹ của thơ[34, tr.Ý kiến của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam - Nhà thơ Phan Ngọc khi nói về kết cấu của thơ có nói rằng: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”.
Ông muốn nói về những giá trị cốt lõi của thơ đó chính là ngôn từ, chỉ có ngôn từ khi kết tinh mới có thể mang đến những cảm xúc cao đẹp nhất. Việc sắp xếp các ngôn từ theo một quy luật phù hợp sẽ mang đến những giá trị nghệ thuật cho thể loại này [31,tr. - Nhà thơ Mã Giang Lân khẳng định: “Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp 4 yếu tố: Ý – Tình – Hình – Nhạc” [31, tr. - Quan niệm của nhà thơ Chế Lan Viên: “Thơ là sản phẩm của tâm hồn, trí tuệ, con người… Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay” [31, tr.
- Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Thơ chính là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”. Qua một số nghiên cứu và ý kiến của các nhà nghiên cứu trên thế giới và các nhà nghiên cứu, nhà thơ Việt Nam, có rất nhiều quan niệm khác nhau, 14 ở mỗi giai đoạn, thơ lại được hình dung và xây dựng với các hình tượng khác nhau. Dựa vào thuật ngữ đã được đưa ra trong Từ điển thuật ngữ văn học, chúng tôi xin lấy đây làm cơ sở triển khai đề tài. Về ngôn ngữ thơ Có thể hiểu, ngôn ngữ thơ chính là sự kết hợp hài hòa giữa ngôn từ và tư tưởng, sự thấm nhuần những ý nghĩ thể hiện qua hình thức ngôn từ là nền tảng tạo nên các áng thơ.
Như Chế Lan Viên từng nói: “Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai về ngôn ngữ”, tức là vai trò của ngôn ngữ với giá trị của thơ là vô cùng lớn. Hay như nhà ngôn ngữ học gốc Nga, Roman Jakobson từng cho rằng: “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”, thơ cũng chính là kết tinh cao nhất của ngôn ngữ, để cho ra đời một bài thơ dạt dào cảm xúc, lắng đọng ý nghĩa, người sáng tác phải mất cả một quá trình lâu dài để học cách sắp xếp, tổ chức các ngôn từ tạo ra một văn bản hoàn chỉnh. Không giống như ngôn ngữ nói hay văn bản thông thường, ngôn ngữ trong thơ là tín hiệu, một từ hay cụm từ đôi khi phải đại diện cho toàn bộ nội dung hàm ý nào đó rất sâu xa. Nó vừa có tính chắt lọc lại vừa chứa đựng âm hưởng, nhịp điệu, tính thẩm mỹ, sự cảm động, đóng vai trò là cầu nối giữa tư duy và mạch cảm xúc của tác giả đến với người đọc.
Hoàng Cầm từng viết về thơ: “Không có ngôn ngữ thì không có văn chương, không có thơ, ngôn ngữ không hay thì không có thơ hay”. Thơ gắn liền với ngôn ngữ, ngôn ngữ thể hiện trong thơ, đó là mối quan hệ gắn kết.