Định ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt qua các tác phẩm văn xuôi Việt Nam

Khám phá định ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam qua các tác phẩm tiêu biểu. Phân tích vai trò và giá trị của định ngữ trong diễn đạt ngôn ngữ văn học.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

187
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về định ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Việt Nam

Định ngữ nghệ thuật là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt, đóng vai trò then chốt trong việc tạo nên giá trị thẩm mỹ của văn xuôi Việt Nam. Nó không chỉ bổ nghĩa cho danh từ mà còn mang chức năng nghệ thuật, tạo hình ảnh và biểu cảm. Nghiên cứu định ngữ nghệ thuật giúp hiểu sâu sắc hơn về nghệ thuật sử dụng ngôn từ của nhà văn và bản chất phong phú của tiếng Việt. Các công trình trước đây đã chỉ ra sự đa dạng về cấu trúc và chức năng của định ngữ nghệ thuật. Việc phân tích hiện tượng này đòi hỏi phương pháp tiếp cận liên ngành, kết hợp ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách học. Định ngữ nghệ thuật xuất hiện trong nhiều thể loại văn xuôi, từ tiểu thuyết đến truyện ngắn, góp phần thể hiện phong cách cá nhân của tác giả và nâng cao sức biểu đạt của tác phẩm.

1.1. Khái niệm định ngữ nghệ thuật

Định ngữ nghệ thuật là thành phần phụ nghĩa trong cụm danh từ, có chức năng tạo hình ảnh, biểu cảm và thẩm mỹ. Nó khác với định ngữ thông thường ở chỗ không chỉ giải thích mà còn khơi gợi cảm xúc và ấn tượng thẩm mỹ. Định ngữ nghệ thuật có thể là từ, cụm từ hoặc tiểu cú, thường được nhà văn sử dụng để miêu tả, khắc họa một cách sinh động. Sự hiện diện của nó biến cụm danh từ thành một đơn vị nghệ thuật, giàu sức gợi hình và gợi cảm.

1.2. Tình hình nghiên cứu định ngữ nghệ thuật ở Việt Nam

Nghiên cứu về định ngữ nghệ thuật ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Các công trình tập trung vào phân loại, xác định chức năng và vai trò của định ngữ trong văn bản. Phương pháp nghiên cứu thường là ngữ pháp, ngữ nghĩa và phong cách học. Tuy nhiên, nhiều khía cạnh vẫn còn bỏ ngỏ, đặc biệt là mối liên hệ giữa định ngữ nghệ thuật và đặc trưng thể loại hay phong cách tác giả. Nghiên cứu tiếp tục được mở rộng với ngữ liệu phong phú hơn.

II. Phân tích cách thức tổ chức của định ngữ nghệ thuật

Cách thức tổ chức của định ngữ nghệ thuật thể hiện trên hai bình diện chính là ngữ pháp và ngữ nghĩa. Về ngữ pháp, định ngữ nghệ thuật có vị trí linh hoạt trong cụm danh từ, có thể đứng trước hoặc sau trung tâm. Số lượng định ngữ trong một cụm danh từ có thể từ một đến nhiều, tạo nên cấu trúc đa dạng. Về ngữ nghĩa, định ngữ nghệ thuật đảm nhận nhiều chức năng như miêu tả, biểu cảm, so sánh, ẩn dụ. Cách tổ chức ngữ nghĩa thường phức tạp, dựa trên mối quan hệ liên tưởng giữa các yếu tố. Nhà văn khéo léo sắp xếp để định ngữ nghệ thuật không chỉ bổ sung nghĩa mà còn tạo nên tầng tầng ý nghĩa, tăng sức biểu đạt cho câu văn.

2.1. Tổ chức ngữ pháp của định ngữ nghệ thuật

Tổ chức ngữ pháp của định ngữ nghệ thuật bao gồm vị trí, số lượng và cấu tạo. Định ngữ có thể đứng trước hoặc sau trung tâm danh từ, với số lượng từ một đến nhiều. Cấu tạo của định ngữ rất đa dạng: từ đơn, cụm từ, tiểu cú hoặc câu rút gọn. Sự kết hợp này tạo nên những cụm danh từ phong phú, góp phần làm giàu ngữ pháp tiếng Việt. Trong một số trường hợp, định ngữ được sắp xếp theo trật tự nhất định để tạo hiệu ứng nghệ thuật.

2.2. Tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật

Tổ chức ngữ nghĩa của định ngữ nghệ thuật liên quan đến chức năng biểu đạt. Định ngữ có thể mang nghĩa miêu tả, tạo hình ảnh; nghĩa biểu cảm, thể hiện cảm xúc; nghĩa so sánh, ẩn dụ, tăng sức gợi. Cách tổ chức ngữ nghĩa thường dựa trên mối quan hệ liên tưởng giữa các yếu tố. Nhà văn khéo léo sắp xếp để định ngữ nghệ thuật không chỉ bổ sung nghĩa mà còn tạo nên tầng tầng ý nghĩa, đòi hỏi người đọc phải liên tưởng và cảm nhận.

III. Vai trò và phương pháp nghiên cứu định ngữ nghệ thuật

Định ngữ nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị nghệ thuật của văn xuôi. Nó góp phần tạo nên hình ảnh sinh động, biểu cảm sâu sắc và nhạc điệu cho câu văn. Về phương pháp nghiên cứu, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ: ngữ pháp học, ngữ nghĩa học, phong cách học và ký hiệu học. Việc kết hợp các phương pháp giúp phân tích toàn diện định ngữ nghệ thuật. Nghiên cứu cũng cần dựa trên ngữ liệu phong phú từ các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu. Định ngữ nghệ thuật không chỉ làm giàu cho ngôn ngữ văn học mà còn phản ánh tư duy nghệ thuật sáng tạo của nhà văn.

3.1. Vai trò của định ngữ nghệ thuật trong văn xuôi

Định ngữ nghệ thuật có vai trò tạo hình ảnh, biểu cảm và nhạc điệu. Nó giúp miêu tả nhân vật, cảnh vật một cách sống động, khơi gợi cảm xúc người đọc. Định ngữ nghệ thuật cũng góp phần thể hiện phong cách nhà văn, tạo nên dấu ấn riêng. Trong câu văn, định ngữ nghệ thuật làm tăng sức biểu đạt, biến câu văn thành tác phẩm nghệ thuật, nâng cao giá trị thẩm mỹ của toàn bộ văn bản.

3.2. Phương pháp phân tích định ngữ nghệ thuật

Phương pháp phân tích định ngữ nghệ thuật bao gồm các bước: xác định định ngữ trong cụm danh từ, phân tích cấu trúc ngữ pháp, làm rõ chức năng ngữ nghĩa và đánh giá giá trị nghệ thuật. Có thể sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu. Việc phân tích cần đặt trong bối cảnh văn bản và phong cách tác giả. Phương pháp tiếp cận liên ngành cũng được áp dụng, kết hợp với lý thuyết văn học để hiểu sâu sắc hơn.

IV. Kết luận và ứng dụng định ngữ nghệ thuật

Định ngữ nghệ thuật là một yếu tố quan trọng trong văn xuôi Việt Nam, góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ và biểu đạt. Nghiên cứu định ngữ nghệ thuật giúp hiểu rõ hơn nghệ thuật ngôn từ của nhà văn và đặc trưng của tiếng Việt. Ứng dụng của nghiên cứu này rộng rãi trong giảng dạy văn học, sáng tác và biên soạn từ điển. Định ngữ nghệ thuật cũng là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn cho ngôn ngữ học và văn học. Trong tương lai, nghiên cứu cần được mở rộng sang các thể loại khác và so sánh với ngôn ngữ khác. Việc ứng dụng công nghệ vào phân tích định ngữ nghệ thuật cũng là hướng đi tiềm năng.

4.1. Ý nghĩa của định ngữ nghệ thuật đối với văn học

Định ngữ nghệ thuật mang lại giá trị thẩm mỹ, làm phong phú ngôn ngữ văn học. Nó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn, góp phần xây dựng hình tượng nghệ thuật. Định ngữ nghệ thuật cũng giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về nội dung và hình thức tác phẩm. Qua định ngữ nghệ thuật, nhà văn gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan điểm nghệ thuật, tạo cầu nối giữa người viết và người đọc.

4.2. Ứng dụng trong giảng dạy và sáng tạo

Trong giảng dạy, phân tích định ngữ nghệ thuật giúp học sinh hiểu sâu sắc tác phẩm và rèn kỹ năng ngôn ngữ. Đối với sáng tác, nhà văn có thể sử dụng định ngữ nghệ thuật để tăng sức biểu đạt cho câu văn. Nghiên cứu định ngữ nghệ thuật cũng cung cấp cơ sở lý luận cho việc biên soạn sách giáo khoa và từ điển, góp phần bảo tồn và phát triển ngôn ngữ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Định ngữ nghệ thuật trong tiếng việt qua một số tác phẩm văn xuôi việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu định ngữ và định ngữ nghệ thuật 1. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở ngoài nước Thuật ngữ định ngữ (Atribute) được dùng trong nghiên cứu của Ngữ pháp học, liên quan đến việc miêu tả cấu tạo ngữ pháp, phân loại và phân tích thành phần câu. Trong các công trình của Ngôn ngữ học đại cương và Ngữ pháp học, định ngữ là một khái niệm được nhiều tác giả bàn tới, đánh giá về cương vị ngữ pháp của nó trong tổ chức cú pháp của câu.

Nhưng có thể thấy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu còn có những ý kiến khác nhau về định ngữ; nhìn chung, các ý kiến mới chỉ dừng lại ở vài nhận xét sơ giản, mà chưa dành nhiều quan tâm như các thành phần khác. Qua các tài liệu mà chúng tôi có được, tuy chưa đầy đủ nhưng có thể nêu tổng quan mấy điểm chính về tình hình và các kết quả nghiên cứu ngữ pháp có bàn đến định ngữ theo mấy hướng sau đây. Các nhà ngôn ngữ học Nga (như A.) cho rằng thành phần câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, vị ngữ phụ thuộc và định ngữ. Khi đề cập đến thành phần phụ của câu, người ta xem trạng ngữ là thành phần bị dẫn tiếp, bổ ngữ là thành phần bị chế ước còn định ngữ là thành phần bị hợp dạng [Dẫn theo 163, tr.

Họ phân biệt hai loại cú pháp: Cú pháp học câu nghiên cứu thành phần chính trong mối quan hệ với câu và trong mối quan hệ tương hỗ với nhau; còn Cú pháp học từ tổ chủ yếu nghiên cứu các thành phần phụ của câu trong mối quan hệ với các thành phần chính và cũng đặt trong mối quan hệ tương hỗ với nhau [Dẫn theo 163, tr. Xtepanop, khi bàn về cấu trúc cú pháp ở bậc câu trong tiếng Nga có nói đến hai loại kết cấu: kết cấu hướng tâm (từ tổ có thành phần chủ yếu) và kết cấu li tâm (từ tổ không có thành phần chủ yếu). Kết cấu hướng tâm là loại từ tổ được mở rộng thành phần chính, khi vận động theo hướng ngược lại thì kết cấu được rút gọn cho đến tận thành phần chính. Mô hình: A+N  N (trong đó, A: tính từ - định ngữ, N: danh từ [178, tr.

8 Các nhà nghiên cứu của Mỹ, Đức, Anh theo quan điểm ngữ pháp quan hệ, ngữ pháp chức năng về sau này chủ yếu quan tâm đến thành phần chính (đặc biệt là vị ngữ); họ không hoặc ít quan tâm đến các thành phần phụ, thậm chí không nói đến định ngữ. Tổng hợp các tài liệu [66], [54] có liên quan đến nội dung đề tài, chúng tôi thấy giai đoạn sau này, khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, khi xu hướng nghiên cứu ngữ pháp chú trọng đến ngữ nghĩa và chức năng phát triển, bàn về thành phần câu, người ta có đề cập đến thành phần định ngữ. Halliday cho rằng trong cấu trúc kinh nghiệm của danh ngữ tiếng Anh có một số yếu tố, trong đó phải kể đến tính ngữ (epithet) và phân loại tố (classifier). Trong đó, tính ngữ là “…chỉ ra một phẩm chất nào đó của tiểu tập hợp, như, old (già/ cũ), long (dài/ lâu), blue (xanh da trời), fast (nhanh)”; phân loại tố lại “chỉ ra tiểu lớp của sự vật […], ví dụ, electric train (tàu điện), passenger train (tàu khách), wooden train (tàu bằng gỗ)” [59, tr.

Trong khi phân loại chức năng các thành tố phụ trong danh ngữ, M. Halliday không xét danh ngữ trong hoạt động hành chức cũng như trong mối quan hệ với ngữ cảnh (cả đối ngôn và hiện thực bên ngoài ngôn ngữ). Mặc dù không trực tiếp nói ra, nhưng ông đã xem xét chức năng của các thành tố phụ trong tiếng Anh (trong đó có các thành phần định ngữ) trên bình diện ngữ nghĩa. Ngoài chức năng tính ngữ và phân loại tố, chúng ta có thể thấy còn các chức năng như hậu chỉ trỏ.

Đây là một trong những gợi ý để chúng tôi, khi xem xét chức năng của ĐN nói chung và ĐNNT nói riêng và phân loại chúng trên bình diện ngữ nghĩa ở mục nói về chức năng định ngữ tiếng Việt. Trong một công trình khác, Beatrice Warren [205] cũng có mục nói về các thành phần phụ thuộc của câu, trong đó có định ngữ. Theo tác giả, ngoài chức năng miêu tả, phân loại, định ngữ còn có chức năng định dạng. Khi xem xét chức năng này, tác giả đặt định ngữ trong tình huống sử dụng cụ thể của nó (tức là trong hoạt động giao tiếp cụ thể).

Bà viết: “Chúng ta hãy giả sử rằng người A muốn người B đưa cho anh ta một cuốn sách. Nếu có trên một cuốn sách ở gần, A phải nhận dạng cuốn sách nào anh ta đòi hỏi. Một cách tự nhiên làm điều này là bổ nghĩa cho danh từ bằng một tính từ chỉ ra đặc điểm có thể 9 ứng dụng được - hoặc ít nhất là dễ thấy nhất đối với sự biểu đạt có ý định trong những sự biểu đạt có thể của sách trong những tình huống cụ thể. Ví dụ: - Hãy đưa cho tôi cuốn sách màu đỏ!” [205, tr.

Rõ ràng, chức năng miêu tả và phân loại của ĐN trong những ngữ cảnh nhất định thường được dùng để “giúp cho việc nhận dạng” sự vật được nói đến trong ngữ cảnh. Điều này giúp chúng ta nhận ra vai trò cần thiết và quan trọng trong việc phân loại ĐN. Tình hình nghiên cứu định ngữ ở Việt Nam Khoảng đầu thế kỷ XX một số tác giả (như: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Lê Văn Lý) tiếp thu lí thuyết của ngôn ngữ châu Âu vào nghiên cứu tiếng Việt. Riêng ở lĩnh vực ngữ pháp, giai đoạn đầu (những năm 40 thế kỷ XX), các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu vận dụng lí thuyết các trường phái ngôn ngữ phương Tây vốn phù hợp với các ngôn ngữ biến hình để phân loại từ và câu tiếng Việt - một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập.

Giai đoạn tiếp theo (những năm 70), ngữ pháp tiếng Việt đã có những thay đổi theo hướng nghiên cứu câu tiếng Việt trên nền tảng của các lí thuyết mới của phương Tây, bám sát vào cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học tiếp cận ngữ pháp từ bình diện chức năng, quan tâm đến ngữ nghĩa ngữ dụng của câu trong hoạt động giao tiếp. Khi đề cập đến cấu trúc câu, một trong những vấn đề trọng tâm mà các tác giả bàn tới là các thành phần câu, trong đó nhiều tác giả đề cập đến thành phần ĐN. Các nhà nghiên cứu dễ dàng xác định ĐN có cương vị ngữ pháp khá đặc thù so với các thành phần khác (như chủ ngữ, vị ngữ hay bổ ngữ) trong câu nhưng đặc điểm và vai trò của nó thì lại có nhiều hướng nhìn nhận, phân tích đánh giá.

Định ngữ trong mối quan hệ với câu Hiện nay có hai loại ý kiến phân tích về ĐN tiếng Việt. Loại ý kiến thứ nhất xem ĐN thuộc thành phần của câu, nhưng quan niệm ĐN thuộc thành phần câu cũng khác nhau và có phân biệt về thứ bậc, tôn ti. 10 Các tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1981, 1992) xem định ngữ là “một loại thành phần phụ có thể đứng trước nòng cốt câu hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ, có nhiệm vụ biểu thị những ý nghĩa hạn định về tình thái hoặc cách thức cho sự tình được nêu trong câu” [163, tr. Ví dụ: - Đột nhiên, Hộ nảy ra ý định muốn lại gần Từ, nhìn kĩ xem mặt Từ lúc bấy giờ ra sao (Nam Cao); - Bỗng đùng một cái, tôi nghe tin anh chết (Nam Cao); - Vậy thì hắn đích thực là một con người hay lật lọng (Nam Cao).

Các định ngữ, theo quan niệm của hai tác giả, có thể dễ dàng thay đổi vị trí mà không làm thay đổi hay mất đi ý nghĩa của toàn bộ câu văn. Trong công trình viết chung Thành phần câu tiếng Việt (1999), hai tác giả phân chia thành phần câu tiếng Việt làm hai loại: Loại thành phần chủ yếu của câu gồm: vị ngữ, chủ ngữ và bổ ngữ; loại thành phần thứ yếu của câu gồm: khởi ngữ, tình thái ngữ, định ngữ câu và trạng ngữ. Như vậy, định ngữ là thành phần có hai vị trí: đứng trước nòng cốt câu hoặc chen giữa chủ ngữ và vị ngữ, bổ sung ý nghĩa về mặt tình thái (khách quan hay chủ quan) cho câu [163, tr. Loại ý kiến thứ hai xem ĐN không có cương vị là thành phần câu mà là thành phần phụ thuộc của từ (từ tổ, cụm từ).

Nhiều ý kiến của các nhà Việt ngữ học theo hướng này. Hoàng Tuệ (1962) xem ngoài các thành viên chính của câu là chủ ngữ và vị ngữ thì có thành viên thứ yếu bổ ngữ, còn định ngữ (bổ sung ý nghĩa cho danh từ) là loại thành viên không nằm cùng hàng với chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ [174, tr. Nguyễn Kim Thản (1964) xác định các thành phần câu gồm: thành phần chính của câu (chủ ngữ, vị ngữ), thành phần thứ yếu của câu (trạng ngữ, khởi ngữ), còn bổ ngữ và định ngữ là thành phần thứ yếu của từ tổ. Thành phần thứ yếu của câu thì phụ thuộc vào cả câu, còn thành phần thứ yếu của từ tổ thì “phụ thuộc hẳn vào một từ nhất định” [145, tr.

Bưstrov, Nguyễn Tài Cẩn, N. Stankevich (1975) xem các thành phần phụ khi ở trong đoản ngữ (cụm từ, từ tổ) là “thành phần phụ thuộc”, điển hình là định ngữ [16, tr. Cao Xuân Hạo (1999), khi xác định cấu trúc của câu tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã chia theo thứ bậc: Bậc cấu trúc cơ bản của câu, gồm phần chính (đề - thuyết) và phần phụ (trạng ngữ) và các thành 11 phần khác ngoài cấu trúc cơ bản của câu gồm: khởi ngữ, hô ngữ, thành phần chuyển tiếp và thành phần chú thích. Định ngữ và bổ ngữ không phải là thành phần câu mà thuộc cấu trúc của ngữ.

“Ngữ làm các thành phần chức năng trong câu có cấu trúc gồm một từ trung tâm và các định ngữ (ngữ danh từ), các bổ ngữ (ngữ vị từ) của nó” [68, tr. Trong cấu trúc ngữ danh từ kiểu như cái áo cuối cùng, cái áo đẹp nhất thì cuối cùng, đẹp nhất là định ngữ [66, tr. Tóm lại, các nhà ngôn ngữ học nước ngoài hay trong giới Việt ngữ học khi bàn đến cấu tạo ngữ pháp của câu tiếng Việt đều đề cập đến thành phần câu, miêu tả các thành phần câu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ