Chương 1 TƯ TƯỞNG DONG THUẬN XÃ HOI CUA HO CHÍ MINH — MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN 1. Khai niệm và vai trò của đồng thuận xã hội 1. Khái niệm đồng thuận xã hội Khái niệm “Đồng thuận xã hội” - khái niệm trung tâm trong khung lý thuyết về đồng thuận xã hội — từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: Triết học, Xã hội học, Khoa học quản lý, Tâm lý học, Chính tri học, v. Triét hoc nghiên cứu đồng thuận xã hội từ lý luận về mâu thuẫn biện chứng.
Theo phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin, sự vật, hiện tượng được tạo thành từ nhiều yếu tố, bộ phận. Những yếu tố đó không những khác nhau mà có thé còn đối lập. Các mặt đối lập liên hệ, tác động lẫn nhau, làm tiền đề, điều kiện cho nhau, tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Hai mặt đối lập của sự vật ton tại trong sự thống nhất và đấu tranh với nhau.
Sự vật còn mâu thuẫn thì còn phải giải quyết. Đồng thuận xã hội chính là một cách thức để giải quyết nhằm làm cho sự vật phát triển. Điều này đã được Mác chỉ rõ: "Cái cau thành bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng nhau ton tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ay va su dung hop cua hai mat ay thành một phạm trù mdi"[90, tr. Nhắn mạnh hơn nữa tư tưởng đó, Lénin viết: "Sự phát triển là một cuộc "đấu tranh" giữa các mặt đối lập "76, tr.
Đồng thuận không có nghĩa là không còn đấu tranh mà là đấu tranh trên cơ sở tôn trọng quyền tự do, dân chủ dé đi đến sự thống nhất tự nguyện. Dưới góc độ xã hội học, đồng thuận là một khái niệm xã hội dùng dé chỉ trạng thái xã hội dựa trên sự nhất trí rộng rãi giữa các thành viên trong một xã hội nhất định. Cụ thé, theo Từ điển Xã hội học của 2 tác giả G.Trommsdorff, nhà xuất bản Thế giới an hành, “Đồng thuận” được định nghĩa là sự nhất trí có tác dụng như một xúc tác xã hội hay chỉ sự khác biệt không đáng ké giữa các thành viên một hệ thống xã hội về những van dé quan trọng đối với hoạt động của hệ thống. Như vậy, đồng thuận là một điều kiện tích cực đối với ổn định xã hội và tiêu cực đối với xung đột xã hội.
Lý thuyết đồng thuận chủ yếu quan tâm đến sự duy trì trật tự xã hội, đến các tiêu chuẩn, các giá trị, các nguyên tắc và các quy định đã được xã hội thừa nhận. Lý thuyết này được hình thành từ xã hội học về trật tự xã hội, về ôn định xã hội và điều tiết xã hội. Như vậy, xã hội học nghiên cứu đồng thuận xã hội từ góc độ là một lý thuyết nhằm đưa lại sự 6n định xã hội. Nó chủ yếu tập trung vào việc giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, các lực lượng xã hội nham tạo nên sự ôn định dé phát triển.
Dưới góc độ Chính trị học, đồng thuận xã hội cũng đề cập tới mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng xã hội để tạo nên sự đồng tình, nhất trí trên cơ sở những điểm tương đồng. Xuất phát từ góc nhìn là xây dựng một chế độ chính trị, chính trị học tập trung nghiên cứu đồng thuận trong mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân và quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, trong đời sống cộng đồng. Chính trị học cũng nghiên cứu sự đồng thuận giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, trong đó nhà nước là trung tâm. Mọi chủ trương, quyết sách đưa ra muốn thực thi có hiệu quả phải được sự đồng tình nhất trí ở mức độ nhất định của các tổ chức khác.
Trong chính học hiện đại, đồng thuận xã hội ngày càng được chú trọng. Cụ thể trong Từ điển Chính trị học hiện đại của tác gia Đa-nhi-en-cô, “Đồng thuận” được định nghĩa là sự đồng tình, đồng ý, sự liên kết theo mong muốn với người khác. Nghĩa đen đầu tiên của từ đồng thuận dùng để chỉ các cảm giác có cùng một ý kiến, một suy nghĩ nào đó, là sự kết nối, liên kết, sự đồng tinh, đồng ý”. Cũng theo tác giả này, từ 11 đồng thuận liên quan đến đồng tình và bao hàm trong đó cả sự tin tưởng lẫn nhau.
Xem xét ở một góc độ khác, đồng thuận đề cập tới việc giải quyết những vấn đề với sự đồng tình, ủng hộ của nhiều người, cho du có sự không đồng tình của nhóm người hoặc một người nào đó. Dễ dàng nhận thấy răng, trong hệ thống chính trị hiện đại ở nhiều nước, các đảng chính trị đều cố gắng hợp pháp hóa và xây dựng quyền lực của mình trên các giá trị mà các giá trị này được chia sẻ một cách rộng rãi. Chính những giá trị được chia sẻ một cách rộng rãi đó kết nối và duy tri sự đồng thuận xã hội. Đồng thuận xã hội gop phan làm cho sự áp đặt, cưỡng bức, cưỡng chế giảm đi và làm tăng thêm sự liên kết tự nhiên giữa các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội, các nhóm dân cư nói chung và các tô chức chính trị - xã hội nói riêng.
Từ thời cô đại, Không Tử - nhà hién triết, nhà tư tưởng chính tri Trung Quốc - sinh thời đã có ý tưởng xây dựng một xã hội an thuận, thái hoà. Ngay từ đời Hán, Lưu Hướng từng chỉ ra răng trong tư tưởng của Không Tử, vua tôi cùng với trăm họ như cùng ở trong một vòng tròn không có đầu mối. Quan điểm đó có thé nói là nhìn thấu đáo chủ trương đức trị của Không Tử [48, tr. Lý tưởng của Không Tử là xây dựng một xã hội đại đồng mà con đường cơ bản dé đạt đến lý tưởng đó là sự hài hoà nhất thé: vua, bê tôi, din chúng.
Và để đạt được sự hài hoà đó, ông đã đưa ra chủ trương Nhân - Lễ - Chính danh. Trong ngũ luân của Không Tử, nếu mỗi người đều thực hiện được bổn phận của mình phù hợp với danh thì xã hội sẽ an bình thịnh trị. Theo tư tưởng chính trị của ông, trong quá trình an bang trị quốc, quân chủ và đại thần đã ở vị trí chủ đạo, do trong quá trình điều hành hành chính, họ có một vai trò rất quan trọng. Do đó, Không Tử thấy rằng cần phải phát huy tác dung của ho khiến cho vua, bề tôi, có được một sự hài hoà, thống nhất để đưa xã hội phát triển.
Tuy rằng học thuyết chính trị của Không Tử có nhiều mâu thuẫn, và còn những hạn chế nhưng tư tưởng xây dựng một xã hội đại đồng có sự hai hoà 12 giữa vua - tôi - dân là một đóng góp tích cực trong lịch sử tư tưởng chính trị mà chúng ta không thé phủ nhận. Đồng thuận xã hội không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn được biểu hiện dưới một mô hình cụ thể: Mô hình dân chủ đồng thuận. Nhà chính trị học Mỹ, Arend Lijphart đã so sánh hai mô hình dân chủ: dân chủ đa số và dân chủ đồng thuận. Theo ông, trong các xã hội đa nguyên - những xã hội thường bị chia rẽ một cách sâu sắc theo các tôn giáo, địa lý, ngôn ngữ, văn hoá, sắc tộc hay chủng tộc và hầu như trở thành tiểu xã hội với chính đảng riêng của mình, thì mô hình dân chủ đa số sẽ không phù hợp.
Dưới những điều kiện nay, sự cai trị của đa số không chỉ phi dan chủ mà còn nguy hiểm, bởi vì các nhóm thiêu số thường xuyên bị từ chối tham gia nắm quyền sẽ cảm thấy bị gạt ra ngoài, bị phân biệt đối xử va do đó sẽ mat lòng trung thành đối với chế độ. Vì thế, các xã hội này cần một chế độ dân chủ, ở đó nhắn mạnh sự đồng thuận thay vì sự đối lập, sự hoà hợp thay vì loại trừ. Ở đó, mỗi quyết định đưa ra đều được sự thống nhất giữa nhóm da số và nhóm thiêu số, chứ không chỉ là thiểu số phục tùng đa số. Đó là mô hình dân chủ đồng thuận.
Ở Việt Nam, “Đồng thuận xã hội” là một khái niệm tương đối mới, xuất hiện trong những năm gần đây. Khái niệm đó được sử dụng chính thức trong văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khoá IX). Khi đề ra chủ trương phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công băng, dân chủ, văn minh, Dang Cộng sản Việt Nam đã chính thức đặt van đề xây dựng sự đồng thuận xã hội. Chủ trương đó tiếp tục bố sung, phát triển trong Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ X, XI.
Đồng thuận xã hội được thé hiện rõ ở việc đưa ra chủ trương lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dan giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh làm điểm tương đông, đông thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng 13 nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tỉnh thân đại đoàn kết, cởi mở, tin cậy lan nhau được trình bay trong văn kiện nghị quyết đại hội đại biểu đảng toàn quốc lần thứ VIII. Đến đại hội IX, Đảng đã tiếp tục kế thừa, phát triển quan điểm trên nhưng bổ sung thêm : xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tỉnh thân cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lại. Chủ trương đó đều nhằm mục đích vì tương lai của mỗi con người, mỗi cộng đồng và của cả dân tộc. Tinh thần xây dựng sự đồng thuận xã hội đã được thê hiện rất rõ.
Đến Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 7 (khóa IX), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đưa ra chủ trương xây dựng sự đồng thuận xã hội. Kế thừa quan điểm xây dựng sự đồng thuận xã hội ở Đại hội IX, Văn kiện đại hội X đã khăng định tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Đề cao truyền thong nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh than cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ồn định chính trị và đồng thuận xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt căn bản do Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục ấn hành thì : “đồng” có nghĩa là cùng, “thuận” có nghĩa là bằng lòng, đồng tinh với ý kiến hoặc cái đã nêu ra.