Chương I Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo thì “ Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”. “Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác”. Tôn giáo Tôn giáo là một phạm trù lịch sử và sẽ còn tồn tại lâu dài. Thuật ngữ Religion (tiếng Anh - Tôn giáo) bắt nguồn từ thuật ngữ Releger (tiếng Latinh) có nghĩa là “thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên”.
Thuật ngữ tôn giáo chỉ mối liên hệ, sự ràng buộc, sự trói buộc. Mối liên hệ, sự ràng buộc, sự trói buộc giữa cái biết và cái chưa biết, giữa cái thực và cái hư, giữa con người và thế giới linh thiêng, hư vô. Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, tôn giáo là một phạm trù mang tính lịch sử. Lịch sử phát triển của tôn giáo không nằm ngoài lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Lịch sử của xã hội loài người quy định lịch sử phát triển của tôn giáo. Tôn giáo xuất hiện với tư cách là phản ánh tình trạng bất lực của con người trước các lực lượng khủng khiếp, bí ẩn của tự nhiên và xã hội; thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi khi tình trạng bất lực ấy được khắc phục. + Quan niệm về tôn giáo của C.Mác “Sự nghèo nàn của tôn giáo là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không 10 z có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần.
Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ khẳng định tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội mà còn khẳng định trong bản thân tôn giáo chứa đựng cả những yếu tố tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực của tôn giáo là bổ sung cho sự thiếu hụt trong hiện thực của con người, bù đắp sự thiếu hụt của hiện thực bằng hư ảo, xoa dịu nỗi đau con người bằng thứ thuốc an thần. Tuy nhiên, sự bù đắp, xoa dịu đó là tiêu cực vì nó làm hạn chế tính tích cực hiện thực của con người.
Bởi thế, theo C.Mác muốn khắc phục tôn giáo trước hết phải cải tạo hiện thực. Đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống lại xã hội đã sản sinh ra tôn giáo.Mác muốn đấu tranh ở đây chính là xã hội đang tồn tại sự áp bức của giai cấp thống trị với giai cấp bị cai trị, sự thấp kém về trình độ phát triển, kinh tế - xã hội. Khi nói đến vai trò xã hội của tôn giáo, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin đã lưu ý đến khía cạnh tôn giáo là nhu cầu của bộ phận nhân dân, nhu cầu của sự phát triển xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định.Ăngghen viết: “Tôn giáo do con người sáng tạo ra, bản thân những người này cảm thấy được nhu cầu cần phải có tôn giáo của quần chúng”. Con người sản sinh ra tôn giáo không phải là con người trừu tượng mà là con người cụ thể, là thế giới con người thuộc về một hình thái xã hội nhất định trong lịch sử.
Tôn giáo là một hình thái ý thức, một yếu tố của kiến trúc thượng tầng xã hội, do đó sự tồn tại và phát triển của tôn giáo, xét đến cùng là do những quan hệ kinh tế quyết định. Tuy nhiên, tôn giáo cũng như các hình thái ý thức xã hội khác có sự tác động trở lại đối với sự phát triển của xã hội. Quan điểm của Đảng ta về tôn giáo đã được thể hiện qua các Văn kiện của Đảng, các lần Đại hội và tập trung trong Nghị quyết 24, ngày 6/10/1990 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI; Chỉ thị số 37, ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII; Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và một số văn kiện khác. 11 z Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, số 24/NQ-TW, ngày 6/10/1990 đã thể hiện rõ những quan điểm định hướng lớn về tôn giáo như sau: “Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Tín đồ tôn giáo Khoản 3, Điều 8 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận”. Đặc điểm của tín đồ tôn giáo là sự thống nhất giữa hai mặt: mặt công dân và mặt tín đồ.
Về mặt công dân: Phần lớn là nhân dân lao động; Bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân khác. Về mặt tín đồ: Người có tín ngưỡng tôn giáo (có niềm tin và tình cảm tôn giáo ở mức độ khác nhau); Có nghĩa vụ và quyền lợi do Giáo hội quy định (thể hiện trong Giáo luật, Lễ luật, Lễ nghi); Cùng với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân họ còn phải thực hiện trách nhiệm của một tín đồ đối với tôn giáo mà họ tin theo. Do đó, hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải tạo điều kiện cho đồng bào, tín đồ thực hiện cả hai nhiệm vụ này. Trong những trường hợp cụ thế cần có chính sách ưu tiên phù hợp để họ thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ đó tốt nhất.2 Vài nét về tôn giáo ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo.
Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới. Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc, đều lưu giữ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Người 12 z Việt có các hình thức tín ngưỡng dân gian như thờ cũng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước.
Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thuỷ (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo. Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử liên tục bị xâm lược từ bên ngoài nên việc Lão giáo, Nho giáo - những tôn giáo có nguồn gốc ở phía Bắc thâm nhập; Công giáo - một tôn giáo gắn với văn minh Châu Âu vào truyền đạo và sau này đạo Tin lành đã khai thác điều kiện chiến tranh ở miền Nam để truyền giáo thu hút người theo đạo là điều dễ hiểu. Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có những tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang hoạt động bình thường, ổn định, chiếm 25% dân số.1 Các tôn giáo chính tại Việt Nam Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó tập trung đông nhất ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ. Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố, trong đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Phòng, Nghệ 13 z An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, thành phố Cần Thơ. Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, An Giang. Phật giáo Hoà Hảo: Gần 1,3 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp Vĩnh Đạo Tin lành: khoảng 1 triệu tín đồ, tập trung ở các tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Long An, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước.
và một số tỉnh phía Bắc. Hồi Giáo: Hơn 60 nghìn tín đồ, tập trung ở các tỉnh: An Giang, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Ninh Thuận. Ngoài 6 tôn giáo chính thức đang hoạt động bình thường, còn có một số nhóm tôn giáo địa phương, hoặc mới được thành lập có liên quan đến Phật giáo, hoặc mới du nhập ở bên ngoài vào như: Tịnh độ cư sỹ, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tổ Tiên Chính giáo, Bàlamôn, Bahai và các hệ phái tin lành. Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới.
Về khía cạnh văn hoá, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo giáo cụ thể.2 Chủ trưởng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo Thông qua việc trình bày một số đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam có thể thấy phần nào bức tranh toàn cảnh về tôn giáo ở Việt Nam.