Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học (mã số: 9 22 90 09) với đề tài "Truyền thừa Thiền phái Tào Động ở phía Bắc Việt Nam: Nghiên cứu Sơn môn Hồng Phúc Hòe Nhai" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Hoàng Thị Lan Anh (pháp danh: Thích Giác Ân) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quốc Tuấn và HT. Thích Thanh Đạt (TS. Nguyễn Phúc Đàn).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hệ thống các tông phái Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam, Thiền phái Tào Động (TPTĐ) có lịch sử du nhập và truyền thừa lâu dài tại các tổ đình, sơn môn phía Bắc từ nửa sau thế kỷ XVII đến nay. Tuy nhiên, các nguồn ghi chép và công trình nghiên cứu về mạch truyền thừa của TPTĐ ở Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng còn mỏng và tồn tại bốn khoảng trống nghiên cứu chính:

  1. Các ghi chép lịch sử về TPTĐ ở Việt Nam còn phân tán, thiếu tính hệ thống; ngay cả các nguồn tài liệu lưu hành nội bộ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) vẫn cần được bổ sung, khảo đính.
  2. TPTĐ phía Bắc khởi đầu từ Thiền sư Thủy Nguyệt (1637–1704) sau khi du học Trung Quốc trở về truyền bá, và chùa Hồng Phúc Hòe Nhai tại Thăng Long do Thiền sư Tông Diễn (1638–1709) trùng tu trở thành tổ đình lớn nhất của phái này ở miền Bắc. Cần làm sáng tỏ pháp mạch truyền thừa từ tổ đình Hòe Nhai lan tỏa thành các chi nhánh liên tục sang xứ Đông (Hải Dương, Kiến An, Đông Triều) và xứ Bắc, đặc biệt là khu vực Hà Nội.
  3. Nghiên cứu Sơn môn Hồng Phúc Hòe Nhai (HPHN) giúp nhận diện rõ nét đặc trưng cơ sở thờ tự, thực hành tôn giáo, phương thức tổ chức và tông phong của một hệ thống truyền thừa Phật giáo truyền thống.
  4. Làm rõ những đóng góp lịch sử của Sơn môn HPHN trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam, đồng thời chỉ ra các vấn đề thực tiễn đang đặt ra đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị của sơn môn trong giai đoạn hiện nay.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích tổng quát: Luận án tập trung làm rõ vấn đề truyền thừa TPTĐ thuộc Sơn môn HPHN ở phía Bắc Việt Nam trong lịch sử cho đến nay; chỉ ra những đóng góp của TPTĐ và Sơn môn HPHN đối với lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam; đồng thời khái quát một số vấn đề đang đặt ra đối với Sơn môn HPHN hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển của TPTĐ ở Trung Quốc và quá trình du nhập vào phía Bắc Việt Nam.
    2. Phân tích làm rõ tư tưởng TPTĐ và các thế hệ truyền thừa TPTĐ ở phía Bắc Việt Nam qua Sơn môn HPHN.
    3. Làm rõ những đóng góp của Sơn môn HPHN đối với lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam; phân tích những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn, phát huy truyền thống ở Sơn môn HPHN hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. TPTĐ thuộc Sơn môn HPHN có lịch sử truyền thừa như thế nào?
  2. Sơn môn HPHN đã có những đặc trưng nào và những yếu tố nào làm nên những đặc trưng đó?
  3. Trong quá trình hình thành và phát triển, Sơn môn HPHN đã có những đóng góp như thế nào cho Phật giáo ở phía Bắc Việt Nam?
  4. Đã có những vấn đề gì đang đặt ra với thực trạng truyền thừa ngày hôm nay của Sơn môn HPHN?
  5. Có thể đề xuất những khuyến nghị gì đối với các vấn đề đang đặt ra như thế?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định:

  • TPTĐ thuộc Sơn môn HPHN có lịch sử truyền thừa theo bài kệ do Thiền sư Nhất Cú Trí Giáo truyền trao cho Thiền sư Thủy Nguyệt ("Tịnh trí thông tông Từ Tính Hải Khoan / Giác Đạo Sinh Quan Chính Tâm Mật Hạnh Nhân..."). Tính từ đời thứ nhất là Thiền sư Thủy Nguyệt đến năm 2023, dòng phái đã truyền thừa được 16 đời trong Sơn môn HPHN.
  • Sơn môn HPHN định hình phong cách tu tập qua việc thụ giới và nghiêm trì giới luật; có sự dung hợp sâu sắc với các thiền phái khác (Lâm Tế, Trúc Lâm Yên Tử) cũng như dung hợp mô hình Tam giáo (Thiền - Nho - Đạo) và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
  • Sơn môn HPHN đóng góp nổi bật trong việc duy trì tư tưởng tông phong, tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo, giáo dục đào tạo tăng tài, phát triển cơ sở thờ tự và thực hiện phương châm đạo pháp gắn bó với dân tộc.
  • Các vấn đề thực tiễn đặt ra hiện nay gồm: việc định vị TPTĐ theo Hiến chương GHPGVN tu chỉnh lần thứ VI (nhiệm kỳ 2017–2022), công tác đào tạo tăng tài kế tục và phát huy nguồn lực văn hóa, xã hội của sơn môn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự truyền thừa của Thiền phái Tào Động ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào Sơn môn HPHN và các ngôi chùa tiêu biểu thuộc TPTĐ tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình, Nam Định và Hải Dương.
  • Phạm vi thời gian: Từ thời điểm TPTĐ được Thiền sư Thủy Nguyệt truyền bá vào miền Bắc (thế kỷ XVII) cho đến năm 2023.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các phương diện truyền thừa gồm: thế hệ các tổ sư, kinh sách điển tịch, phương pháp tu tập, giáo dục đào tạo tăng tài và tông phong sơn môn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận hệ thống tài liệu nghiên cứu thành hai nhóm chính:

Nhóm tài liệu gốc

  1. Tài liệu kinh điển và sử liệu Hán văn về Tào Động tại Ấn Độ và Trung Quốc:

    • Các bộ kinh nền tảng của Thiền tông: Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, Kinh Kim Cương (do Cưu Ma La Thập dịch).
    • Bộ Kinh Kim Cương trực giải do chư tổ TPTĐ biên soạn, in năm Đồng Khánh 2 (1887) tại chùa Hồng Phúc Hòe Nhai.
    • Các tác phẩm thiền học kinh điển: Lục Tổ Đại Sư pháp bảo đàn kinh, Thiền lâm bảo huấn, Truy môn Cảnh Huấn, Ngũ gia phân phái (Thiền sư Thanh Như Chiếu biên soạn), Cao Tăng truyện sơ tập (Huệ Kiều soạn năm 529).
  2. Tài liệu Hán Nôm và văn bia về Tào Động tại Việt Nam và Sơn môn HPHN:

    • Thuyền Uyển Kế Đăng Lục do Thiền sư Như Sơn soạn năm 1734 (bản dịch của Thích Thiện Phước năm 2015), giới thiệu hành trạng và kệ truyền thừa của 41 vị tổ sư TPTĐ Trung Hoa và pháp mạch truyền sang Việt Nam.
    • Các trước tác của chư tổ Hòe Nhai: Kinh Pháp Hoa đề cương và Bát Nhã trực giải do Thiền sư Thanh Đàm Minh Chính - Giác Đạo Tuân (1786–1848, tổ đời 7 Sơn môn HPHN) soạn năm 1819; Tăng Hộ kinh in năm Cảnh Hưng 18 (1757) tại chùa Hòe Nhai.
    • Vĩnh Phúc Thiền phả (ghi chép về Hòa thượng Thích Thanh Hanh); cuốn Tào Động chính phái - Cúng tổ khoa - Hồng Phúc tự (chép tay năm 1892 bởi đệ tử Lại Ngọc Quỳnh); Khoa cúng tổ chùa Cả (Nam Định); các bộ kinh nhật tụng: Chư kinh nhật tụng tập yếu, Thiền môn nhật tụng, Dược Sư kinh đề cương, Tịnh nhân giới thể thức; bán nguyệt tụng giới pháp thức (in năm Tự Đức 10 - 1857 tại chùa Hòe Nhai).
    • Hệ thống văn bia: Hồng Phúc tự cổ văn bia ký (ký hiệu No 13541, khắc năm Chính Hòa 24 - 1703); bia bốn mặt Danh thủy bất hủ (No 13539, Hà Tông Mục soạn năm 1703, Thiền sư Pháp Minh khắc lại năm 1932); Thánh Âm tự truyền đăng bi (dựng năm 1959); văn bia Tháp Viên Minh tại chùa Quảng Nghiêm (Kinh Môn, Hải Dương); Kỷ niệm bi ký (No 25223/24, khắc năm Bảo Đại Đinh Mão 1927 tại chùa Đồng Dương, Hà Đông).

Nhóm tài liệu thứ cấp

  • Các nghiên cứu về Tào Động Trung Quốc và lịch sử Phật giáo: Công trình của Thích Cổ Đạo (Trung Quốc Phật giáo Tào Động tông tổ đình, 2014); Thích Giới Long (Long Hoa Thiền Tự lịch đại trụ trì và danh tăng, 2014); Ấn Thuận (Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc, 2014); Thích Thanh Kiểm (Lịch sử Phật giáo Trung Quốc, 1991); Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận, 2012); Nguyễn Nhân (2013); Thích Thanh Từ (Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20, 2008); ĐĐ. Thích Trúc Thông Quảng (Thiền tông Lâm Tế, Tào Động, 2016).
  • Các nghiên cứu trực tiếp về TPTĐ và Sơn môn HPHN tại Việt Nam:
    • Bản dịch và khảo cứu Tào Động tông Nam truyền tổ sư ngữ lục và Tào Động tông Nam truyền đệ nhất tổ sư ngữ lục của Tăng thống Khoan Dực (soạn năm 1806, TT. Thích Tiến Đạt dịch năm 2015).
    • Kỷ yếu hội thảo khoa học về Thiền phái Tào Động Việt Nam và quần thể di tích Nhẫm Dương (2015) với các bài viết của ĐĐ. Thích Nguyên Toàn, TT. Thích Tâm Vượng, TS. Lê Đình Phụng, Tạ Ngọc Liễn, TS. Phạm Văn Tuấn, HT. Thích Thanh Nhã.
    • Các công trình chuyên khảo, luận án: Nguyễn Duy Hinh (Lịch sử Đạo Phật Việt Nam, 2009); Luận văn thạc sĩ của Đỗ Văn Đô (Thích Tuệ Thành, 2018); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tiến Sơn (Đại học Nam Kinh, 2016); Luận án tiến sĩ của Phạm Văn Phượng (Thiền phái Tào Động ở miền Bắc Việt Nam: Sự truyền thừa và thực trạng hiện nay, 2022).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước đã cung cấp nhiều tư liệu lịch sử giá trị nhưng chưa đi sâu phân tích nội hàm học thuật của khái niệm "Sơn môn" và "Truyền thừa" trong cấu trúc Phật giáo Bắc tông; chưa đối chiếu chỉnh lý phả hệ truyền thừa 30 đời tại Trung Quốc và hệ thống hóa toàn diện mạch truyền thừa 16 đời tại Sơn môn HPHN; đồng thời chưa phân tích sâu cấu trúc tổ chức, thanh quy, nghi lễ và các vấn đề thực tiễn của Sơn môn HPHN trong bối cảnh đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết tiếp cận

Luận án vận dụng cách tiếp cận liên ngành giữa Tôn giáo học, Sử học tôn giáo, Văn bản học và Xã hội học tôn giáo, dựa trên hai khung lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết thực thể tôn giáo (Le Fait Religieux): Dựa trên công trình của Jean Delumeau (1992), Dominique Borne và Jean-Paul Willaime (2009) cùng sự diễn giải của PGS.TS. Nguyễn Quốc Tuấn (2018). Lý thuyết này nhìn nhận thực thể tôn giáo là tổng thể các niềm tin, thực hành tôn giáo của cá nhân và cộng đồng với các tính chất xác định (tính tập thể, vật thể, biểu tượng, kinh nghiệm, nhạy cảm). Luận án áp dụng lý thuyết để phân tích cấu trúc niềm tin, giáo luật, thanh quy, nghi lễ và tổ chức cộng đồng Tăng Ni, Phật tử của Sơn môn HPHN.
  2. Lý thuyết cấu trúc - chức năng tôn giáo: Tiếp thu quan điểm của Emile Durkheim, Bronislaw Malinowski, Talcott Parsons và các nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Quốc Tuấn). Luận án xem xét Sơn môn HPHN như một thiết chế xã hội thực hiện ba nhóm chức năng cơ bản: liên kết xã hội, hỗ trợ xã hội, và giáo dục đạo đức - lối sống.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp Văn bản học: Giám định, dịch thuật, chú giải và đối chiếu niên đại của các văn bản bia ký Hán Nôm, mộc bản, khoa cúng, ngữ lục của chư tổ nhằm khôi phục thông tin truyền thừa chính xác.
  • Phương pháp lịch đại và đồng đại sử học: Tái hiện tiến trình hình thành, du nhập và biến đổi của TPTĐ theo dòng thời gian (lịch đại), đồng thời đặt sự phát triển của Sơn môn HPHN trong mối tương quan với các tông phái và bối cảnh kinh tế - xã hội cùng thời kỳ (đồng đại).
  • Phương pháp chú giải và phân tích tôn giáo học: Phân tích các luận thuyết tính Không, Bát Nhã, Động Sơn ngũ vị và thiền Mặc Chiếu trong trước tác của các thiền sư Hòe Nhai.
  • Phương pháp tổng hợp tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa các nguồn tư liệu học thuật trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điền dã và phỏng vấn sâu: Khảo sát thực địa tại các ngôi chùa thuộc sơn môn; phỏng vấn sâu 15 vị cao tăng, trụ trì và Tăng Ni thuộc Sơn môn HPHN tại miền Bắc (như HT. Thích Thọ Lạc, TT. Thích Tâm Hoan, TT. Thích Trí Như, TT. Thích Tiến Đạt, ĐĐ. Thích Nguyên Toàn, TT. Thích Tâm Vượng, TT. Thích Thanh Đoàn, Ni sư Thích Đàm Quang Thụy).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu, tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án

Chương 1 tổng thuật chi tiết toàn bộ các nguồn tư liệu gốc và tư liệu nghiên cứu liên quan đến TPTĐ tại Trung Quốc và Việt Nam; chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu; đồng thời xác lập và chuẩn hóa nội hàm 15 khái niệm, thuật ngữ then chốt: Truyền thừa, Truyền đăng, Thiền phái Tào Động, Hồng Phúc Hòe Nhai, Hành trạng, Miền (phía) Bắc Việt Nam, Thiền chỉ và thiền quán, Thiền tông, Thiền môn, Tổ đình, Thiền sư, Tông, Tông môn, Tông phái, Tông phong, và Tổ sư.

Chương 2: Khái quát lịch sử hình thành và quá trình du nhập Thiền phái Tào Động vào phía Bắc Việt Nam

Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử Thiền tông Trung Hoa từ Bồ Đề Đạt Ma qua Lục tổ Huệ Năng, sự hình thành hai hệ phái Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng, dẫn tới sự xuất hiện của "ngũ gia thất tông". TPTĐ do Thiền sư Động Sơn Lương Giới (807–869) và đệ tử Tào Sơn Bản Tịch (840–901) sáng lập tại Giang Tây, phát triển giáo lý Động Sơn Ngũ Vị và tông phong Mặc Chiếu thiền.

Luận án tiến hành khảo sát và đối chiếu ba nguồn tư liệu lớn: Thuyền Uyển Kế Đăng Lục, Tổ đình Tông Tào Động Phật giáo Trung Quốc (Thích Cổ Đạo) và Long Hoa Thiền Tự lịch đại trụ trì và danh tăng (Thích Giới Long), từ đó đính chính các sai lệch về thế hệ truyền thừa tại Trung Quốc:

  • Đời thứ 6 là Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền (943–1027) và đời thứ 7 là Thiền sư Đầu Tử Nghĩa Thanh (1032–1083) (hiệu đính lại sự đảo ngược thứ tự trong tài liệu chùa Long Hoa).
  • Chỉ ra các điểm mâu thuẫn về niên đại từ đời thứ 9 đến đời thứ 18 trong Thuyền Uyển Kế Đăng Lục và xác lập lại phả hệ chuẩn xác.
  • Khẳng định Thiền sư Phượng Hoàng Nhất Cú Trí Giáo ở núi Phụng Hoàng (Hồ Châu) là truyền nhân đời thứ 30 (nối pháp Thiền sư Tử Mai Tịnh Chu đời 29), là vị tổ sư trực tiếp truyền trao tâm ấn và kệ truyền thừa cho Thiền sư Thủy Nguyệt (Thông Giác Đạo Nam) truyền sang Việt Nam.
Thế hệ (Phổ hệ) Thuyền uyển kế đăng lục Tổ đình TTĐ Phật giáo Trung Quốc Hồ Châu Biện Sơn Long Hoa Tào Động Xác lập của Luận án
Đời 1 Động Sơn Lương Giới (807–869) Động Sơn Lương Giới (807–869) Động Sơn Lương Giới (807–869) Động Sơn Lương Giới (807–869)
Đời 2 Tào Sơn Bản Tịch (840–901) / Vân Cư Đạo Ưng (835–902) Tào Sơn Bản Tịch (840–901) / Vân Cư Đạo Ưng (835–902) Vân Cư Đạo Ưng (835–902) Tào Sơn Bản Tịch / Vân Cư Đạo Ưng
Đời 3 Đồng An Đạo Phỉ (?-905) Đồng An Phỉ (?-905) Đồng An Tăng Phỉ (?-905) Đồng An Đạo Phỉ (?-905)
Đời 4 Đồng An Quán Chí (910–970) Đồng An Chí (910–970) Đồng An Quán Chí (910–970) Đồng An Quán Chí (910–970)
Đời 5 Lương Sơn Duyên Quán (920–990) Lương Sơn Duyên Quán (920–990) Lương Sơn Duyên Quán (920–990) Lương Sơn Duyên Quán (920–990)
Đời 6 Thái Dương Cảnh Huyền (943–1027) Thái Dương Cảnh Huyền (943–1027) Đầu Tử Nghĩa Thanh (1032–1083) Thái Dương Cảnh Huyền (943–1027)
Đời 7 Đầu Tử Nghĩa Thanh (1032–1083) Đầu Tử Nghĩa Thanh (1032–1083) Thái Dương Cảnh Huyền (943–1027) Đầu Tử Nghĩa Thanh (1032–1083)
Đời 8 Phù Dung Đạo Khải (1043–1118) Phù Dung Đạo Khải (1043–1118) Phù Dung Đạo Khải (1043–1118) Phù Dung Đạo Khải (1043–1118)
Đời 9 Đan Hà Tử Thuần (1064–1117) Đan Hà Tử Thuần (1064–1117) Lộc Môn Tự Giác (?-1117) Đan Hà Tử Thuần / Lộc Môn Tự Giác
Đời 10 Chân Yết Thanh Liễu (1089–1153) Trưởng Lô Thanh Liễu (1091–1152) Phổ Chiếu Hy Biện (1081–1149) Chân Yết Thanh Liễu / Phổ Chiếu Nhất Biện
Đời 14 Lộc Môn Tự Giác (?-1117) Vạn Tùng Hành Tú (1166–1246) Vạn Tùng Hành Tú (1166–1246) Vạn Tùng Hành Tú (1166–1246)
Đời 26 Từ Chu Phương Niệm (1510–1594) Từ Chu Phương Niệm (1510–1594) Chu Phương Niệm (1510–1594) Từ Chu Phương Niệm (1510–1594)
Đời 27 Trạm Nhiên Viên Trừng (1561–1626) Trạm Nhiên Viên Trừng (1561–1626) Trạm Nhiên Viên Trừng (1561–1626) Trạm Nhiên Viên Trừng (1561–1626)
Đời 28 Thụy Bạch Minh Tuyết (1584–1641) Thụy Bạch Minh Tuyết (1584–1641) Thụy Bạch Minh Tuyết (1584–1641) Thụy Bạch Minh Tuyết (1584–1641)
Đời 29 Tử Mai Tịnh Chu (1596–1648) Thục An Tịnh Chu (1591–1647) Thục An Tịnh Chu (1596–1648) Tử Mai Tịnh Chu (1596–1648)
Đời 30 Nhất Cú Trí Giáo (?-?) Bạch Sư Trí Thuần (?-?) Bạch Sư Trí Thuần (?-?) Phượng Hoàng Nhất Cú Trí Giáo (?-?)

Chương 3: Tư tưởng và các thế hệ truyền thừa Thiền phái Tào Động trong Sơn môn Hồng Phúc Hòe Nhai

Chương 3 khảo sát lịch sử hình thành Tổ đình chùa Hồng Phúc Hòe Nhai (số 19 Hàng Than, Ba Đình, Hà Nội). Chùa vốn có từ thời Lý, đến năm Chính Hòa 24 (1703) được bà Nguyễn Thị Phán và ông Vũ Trọng Hưng phát tâm hưng công, được vua Lê Hy Tông cấp kinh phí trùng tu và thỉnh Thiền sư Chân Dung Tông Diễn về trụ trì khai mở TPTĐ.

Luận án phân tích sâu hệ thống tư tưởng truyền thừa trong sơn môn:

  • Tư tưởng triết học: Kế thừa học thuyết Tính Không của hệ Bát Nhã Đại thừa, tư tưởng "Vô tình thuyết pháp", kết hợp giữa đốn ngộ và tiệm tu qua phương pháp Mặc Chiếu thiền. Tư tưởng này được thể hiện rõ qua các trước tác của Thiền sư Thanh Đàm Minh Chính (Kinh Pháp Hoa đề cương, Bát Nhã trực giải).
  • Thực hành giới luật và nghi lễ: Chú trọng thanh quy nghiêm ngặt, thực hành tụng giới định kỳ (Bán nguyệt tụng giới pháp thức), nghi lễ cúng tổ (Tào Động chính phái Cúng tổ khoa), và các thời khóa thường nhật (Chư kinh nhật tụng tập yếu).
  • Đặc trưng dung hợp: Dung hợp giữa Thiền Tào Động với Thiền Lâm Tế, Thiền Trúc Lâm Yên Tử; tích hợp Tam giáo (Phật - Nho - Đạo) và tiếp biến tín ngưỡng bản địa thờ cúng tổ tiên.
  • Pháp mạch truyền thừa: Khảo sát mạng lưới 16 thế hệ truyền thừa của Sơn môn HPHN tỏa rộng khắp các trung tâm Phật giáo miền Bắc như chùa Trấn Quốc, chùa Xiển Pháp, chùa Bà Đá, chùa Hàm Long, chùa Cầu Đông, chùa Quảng Bá (Hà Nội); chùa Nhẫm Dương (Hải Dương); chùa Cổ Lễ, chùa Cả, chùa Thọ Vực, chùa Phú Ninh (Nam Định); chùa Phúc Chỉnh, chùa Đồng Đắc (Ninh Bình).

Chương 4: Đóng góp của Sơn môn Hồng Phúc Hòe Nhai trong lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Chương 4 tổng kết các đóng góp lịch sử và nhận diện các vấn đề đương đại:

  • Đóng góp lịch sử:
    1. Bảo tồn và truyền bá liên tục tư tưởng tông phong Tào Động tại Việt Nam suốt hơn 300 năm.
    2. Đóng góp trực tiếp vào phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là Hòa thượng Thích Thanh Hanh (Tổ Vĩnh Nghiêm, xuất thân tu học tại chùa Hòe Nhai) được suy tôn làm Thiền gia Pháp chủ Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934).
    3. Đào tạo nhiều thế hệ danh tăng cống hiến cho Giáo hội và xã hội qua các thời kỳ.
    4. Trùng tu, bảo tồn hệ thống di sản văn hóa vật thể (kiến trúc chùa, tượng Phật, văn bia, mộc bản) và phi vật thể (khoa nghi, thanh quy).
    5. Đồng hành cùng lịch sử dân tộc trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và thực hiện đường lối phụng sự "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".
  • Những vấn đề đặt ra hiện nay:
    1. Vấn đề khôi phục và định danh truyền thống TPTĐ trong khuôn khổ tổ chức thống nhất của GHPGVN theo Hiến chương tu chỉnh lần thứ VI.
    2. Thách thức trong công tác giáo dục, đào tạo tăng tài kế thừa tinh thông cả Phật học truyền thống lẫn kiến thức hiện đại.
    3. Bảo tồn nguồn tài liệu Hán Nôm, văn bia, mộc bản đang bị xuống cấp hoặc mai một.
    4. Áp lực của quá trình đô thị hóa đối với không gian sinh hoạt tâm linh và việc giữ gìn thanh quy chốn thiền môn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện quá trình du nhập, hình thành và phát triển của Thiền phái Tào Động tại miền Bắc Việt Nam, làm sáng tỏ vai trò trung tâm của Tổ đình Hồng Phúc Hòe Nhai như một cội nguồn truyền thừa tiêu biểu của tông phái.
  2. Hiệu đính và xác lập bảng phả hệ truyền thừa 30 đời của TPTĐ tại Trung Quốc theo nhánh truyền sang Việt Nam trên cơ sở đối chiếu khoa học giữa các nguồn sử liệu Hán Nôm Việt Nam (Thuyền Uyển Kế Đăng Lục, văn bia) và điển tịch Phật giáo Trung Quốc.
  3. Làm rõ đặc trưng tư tưởng, phương pháp tu tập (Mặc Chiếu thiền, giáo lý ngũ vị), thanh quy giới luật và tính chất dung hợp tôn giáo đặc thù của Sơn môn HPHN dưới lăng kính lý thuyết thực thể tôn giáo và lý thuyết cấu trúc - chức năng.
  4. Đánh giá khách quan, toàn diện vị thế và những đóng góp của Sơn môn HPHN đối với phong trào chấn hưng Phật giáo và lịch sử Phật giáo Việt Nam thời cận - hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp kiến nghị

  1. Cung cấp luận cứ khoa học và nguồn tư liệu lịch sử xác thực phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình giảng dạy tại các trường Phật học (Học viện Phật giáo, trường Trung cấp Phật học) và các cơ sở nghiên cứu tôn giáo.
  2. Đề xuất các khuyến nghị cụ thể cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo trong việc:
    • Bảo tồn, số hóa di sản văn hóa Hán Nôm, văn bia, mộc bản tại các tự viện thuộc Sơn môn HPHN.
    • Hoàn thiện mô hình quản trị sơn môn truyền thống hài hòa với Hiến chương và quy chế hoạt động của GHPGVN.
    • Nâng cao chất lượng đào tạo tăng ni trẻ gắn kết giữa giữ gìn giới luật truyền thống và đáp ứng yêu cầu phụng sự xã hội đương đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi khảo sát thực địa của luận án chủ yếu tập trung tại khu vực Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ (Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh), chưa mở rộng khảo sát các tự viện TPTĐ tại các địa bàn xa hơn ở vùng núi phía Bắc hoặc chi nhánh Tào Động ở Đàng Trong.
  • Nhiều tư liệu văn bia, hoành phi, câu đối và mộc bản tại các chùa bị bào mòn, hư hỏng qua thời gian và chiến tranh, dẫn đến việc thu thập một số niên đại truyền thừa chi tiết gặp khó khăn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa truyền thừa TPTĐ ở Đàng Ngoài (phía Bắc) và Đàng Trong (miền Trung, miền Nam) để xây dựng bức tranh toàn cảnh về TPTĐ trên phạm vi toàn quốc.
  • Tiến hành nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa Thiền Tào Động Việt Nam với Thiền Tào Động Nhật Bản (Sōtō Zen) và Thiền Tào Động Hàn Quốc về phương diện tư tưởng, nghi lễ và phương thức thích ứng hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Thuộc các chuyên ngành Tôn giáo học, Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Phật giáo, Văn hóa học và Hán Nôm học; đặc biệt là phần khảo cứu văn bản học và hiệu đính phả hệ truyền thừa trong Chương 1 và Chương 2.
  • Tăng Ni và cơ sở đào tạo Phật học: Phục vụ công tác giảng dạy môn Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tông phái Phật giáo tại các Học viện Phật giáo Việt Nam; cung cấp tài liệu nghiên cứu về giới luật và thanh quy truyền thống của Sơn môn HPHN.
  • Các nhà quản lý văn hóa, tôn giáo và Ban Trị sự GHPGVN: Tham khảo trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa, quy hoạch bảo tồn di sản Hán Nôm và định hướng phát huy nguồn lực tôn giáo trong xã hội hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Ai là vị sơ tổ truyền bá Thiền phái Tào Động vào miền Bắc Việt Nam và Tổ đình Hồng Phúc Hòe Nhai được thiết lập như thế nào?

Thiền sư Thủy Nguyệt (1637–1704, đạo hiệu Thông Giác Đạo Nam) sau khi sang Trung Quốc cầu pháp tại núi Phượng Hoàng (Hồ Châu) và đắc pháp nơi Thiền sư Nhất Cú Trí Giáo đã trở về truyền bá TPTĐ tại miền Bắc. Sau đó, đệ tử của ngài là Thiền sư Tông Diễn (1638–1709, hiệu Chân Dung) được sự hỗ trợ của bà Nguyễn Thị Phán, ông Vũ Trọng Hưng và sắc chỉ cấp kinh phí của vua Lê Hy Tông vào năm Chính Hòa 24 (1703) đã tiến hành đại trùng tu chùa Hồng Phúc Hòe Nhai (Thăng Long), biến nơi đây thành tổ đình trung tâm lớn nhất của TPTĐ phía Bắc.

2. Bài kệ truyền pháp từ Trung Hoa sang Việt Nam theo Sơn môn HPHN có nội dung như thế nào?

Bài kệ truyền tông do Thiền sư Nhất Cú Trí Giáo trao cho Thiền sư Thủy Nguyệt gồm các câu: "Tịnh trí thông tông Từ Tính Hải Khoan / Giác Đạo Sinh Quan Chính Tâm Mật Hạnh Nhân / Đức Di Lương Tuệ Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường". Các chữ đầu của bài kệ được lấy làm pháp danh thế thứ truyền thừa cho 16 đời Tăng Ni trong Sơn môn HPHN từ thế kỷ XVII đến nay.

3. Luận án đã phát hiện và hiệu đính sai lệch niên đại nào trong phả hệ truyền thừa Tào Động Trung Quốc?

Luận án chỉ ra cuốn Hồ Châu Biện Sơn Long Hoa Tào Động Thế Hệ đã đảo ngược vị trí đời thứ 6 và 7; luận án chứng minh đời thứ 6 phải là Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền (943–1027) và đời thứ 7 là Thiền sư Đầu Tử Nghĩa Thanh (1032–1083). Đồng thời, luận án chỉ rõ sự bất hợp lý về niên đại đời thứ 9 đến 18 trong Thuyền Uyển Kế Đăng Lục và xác định vị trí của Thiền sư Phượng Hoàng Nhất Cú Trí Giáo thuộc đời thứ 30.

4. Những tác phẩm kinh bản, luận giải tiêu biểu nào được biên soạn hoặc in ấn tại Tổ đình Hòe Nhai?

Các tác phẩm tiêu biểu gồm: Kinh Kim Cương trực giải (in năm 1887); Kinh Pháp Hoa đề cương và Bát Nhã trực giải (Thiền sư Thanh Đàm Minh Chính soạn năm 1819); Tăng Hộ kinh (in năm 1757); Tịnh nhân giới thể thức; bán nguyệt tụng giới pháp thức (in năm 1857); Chư kinh nhật tụng tập yếu; Thiền môn nhật tụng; Dược Sư kinh đề cương; và tập sách Tào Động chính phái - Cúng tổ khoa - Hồng Phúc tự (chép năm 1892).

5. Những vị giáo phẩm, tăng ni tiêu biểu nào đã được tác giả phỏng vấn sâu trong nghiên cứu điền dã?

Tác giả đã phỏng vấn sâu 15 vị chức sắc, trụ trì thuộc sơn môn, tiêu biểu như: HT. Thích Thọ Lạc (trụ trì chùa Đồng Đắc, Ninh Bình - đời 14); TT. Thích Tâm Hoan (trụ trì chùa Hòe Nhai, Hà Nội); TT. Thích Trí Như (trụ trì chùa Quỳnh Đô, Thanh Trì - đời 15); TT. Thích Tiến Đạt (trụ trì chùa Đại Từ Ân, Đan Phượng - đời 15); ĐĐ. Thích Nguyên Toàn (trụ trì chùa Thiên Âm, Hà Giang - đời 16); TT. Thích Tâm Vượng (trụ trì chùa Cổ Lễ, Nam Định); TT. Thích Thanh Đoàn (trụ trì chùa Thọ Vực, Nam Định); Ni sư Thích Đàm Quang Thụy (trụ trì chùa Diên Phúc, Hoài Đức - đời 15).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Hoàng Thị Lan Anh (Thích Giác Ân) là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về lịch sử truyền thừa của Thiền phái Tào Động tại miền Bắc Việt Nam qua trường hợp cụ thể của Sơn môn Hồng Phúc Hòe Nhai. Bằng việc kết hợp phương pháp văn bản học với các khung lý thuyết thực thể tôn giáo và cấu trúc - chức năng, luận án đã hiệu đính chính xác phả hệ truyền thừa 30 đời tại Trung Quốc và làm sáng tỏ mạch truyền thừa 16 thế hệ tại Việt Nam. Công trình khẳng định vai trò lịch sử trọng yếu của Sơn môn HPHN trong việc bảo tồn tư tưởng tông phong, đào tạo tăng tài và đóng góp vào phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Đồng thời, luận án đưa ra các giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm định hướng bảo tồn di sản và phát huy nguồn lực tôn giáo trong bối cảnh xã hội hiện đại.