Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình liên quan đến luận án đã công bố, Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Nội dung của luận án bao gồm 4 chƣơng, 11 tiết. Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án Chƣơng 2: Khái quát lịch sử hình thành TPTĐ ở Ấn Độ, Trung Quốc và quá trình du nhập TPTĐ vào phía Bắc Việt Nam Chƣơng 3: Tƣ tƣởng và các thế hệ truyền thừa TPTĐ trong Sơn môn HPHN Chƣơng 4: Đóng góp của Sơn môn HPHN trong sự lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam và những vấn đề đặt ra 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nhóm tài liệu gốc về lịch sử và tƣ tƣởng Thiền phái Tào Động 1.
Về lịch sử và tư tưởng Thiền phái Tào Động ở Ấn Độ và Trung Quốc Tào Động là một trong “năm nhà, bảy phái” của Thiền tông Trung Hoa sau Lục tổ Tuệ Năng. Ban đầu tƣ tƣởng Thiền tông dựa trên bộ kinh Lăng Già, thiết lập lên phả hệ truyền thừa từ thầy sang đệ tử gắn bó với các tông phái vào một thời điểm nhất định. Bộ kinh điển cổ nhất có chứa tƣ tƣởng căn bản của Thiền tông chính là bộ Bát nhã ba la mật đa tâm kinh, một tác phẩm trong bộ Bát Nhã tối cổ, chứa đựng cả ba thừa (Nguyên thủy, Nam tông, Bắc tông) [97, tr.849] đƣợc dịch và lƣu trong Đại Chính tạng,. Ngoài ra, bộ kinh Kim Cương cũng là một trong những bộ kinh quan trọng của Thiền tông nói về tƣ tƣởng tính không: nhất thiết hữu vi pháp: nhƣ mộng, huyễn, bào, ảnh; nhƣ lộ, diệc nhƣ điện; ƣng tác nhƣ thị quán.
Nghĩa là tất cả các pháp hữu-vi, nhƣ mộng, huyễn, bọt, bóng, nhƣ sƣơng, nhƣ chớp lóe, nên quán chiếu nhƣ thế. Đây là bộ kinh đƣợc Ngài Cƣu Ma La Thập dịch từ Phạm văn sang Hán văn. Vào đầu thế kỷ 20 đã đƣợc khắc ván và lƣu giữ ở chùa Giác Hải , Gò Kén, Tây Ninh. Dựa vào bộ kinh này chƣ tổ thuộc TPTĐ đã biên soạn ra bộ kinh Kim Cƣơng trực giải [79] làm nền tảng cho tƣ tƣởng tông phái Thiền Tào Động trong Sơn môn HPHN.
Bộ kinh đƣợc in năm Đồng Khánh 2 (1887) tại chùa Hồng Phúc Hòe Nhai. Bên cạnh đó, còn một số tài liệu Hán cổ liên quan đến sự hình thành tƣ tƣởng, tông phong và truyền bá TPTĐ ở Trung Hoa nhƣ: Lục Tổ Đại Sư pháp bảo đàn kinh [105, tr.345] nói về phƣơng pháp đốn ngộ của Thiền tông do lục tổ Tuệ Năng giảng giải và truyện dạy cho các đệ tử; Thiền lâm bảo huấn [109, tr. 1016] và Truy môn Cảnh Huấn [110, tr. Đây là hai bộ kinh sách với nội dung chỉ dạy cho giới tu hành về tôn chỉ của thiền tông và các kỷ cƣơng nhà thiền, cách hoằng pháp và trụ trì,.
Đây cũng là hai bộ kinh tối quan trong cho giới tu hành Việt Nam hiện nay, dù thuộc tông 11 phái nào. Do đó khi nghiên cứu về truyền thừa tông phong của Sơn môn HPHN cũng không thể bỏ qua hai kinh điển gốc này. Bộ nhƣ Ngũ gia phân phái [85], do thiền sƣ Thanh Nhƣ Chiếu biên soạn nói về các đời tổ sƣ Trung Quốc, cũng đã đƣợc in và lƣu hành trong Sơn môn HPHN làm tƣ liệu khảo cứu về chƣ vị tổ sƣ. Bộ Cao Tăng truyện sơ tập hay còn gọi là Sơ cao Tăng truyện, do tác giả Huệ Kiều đời nhà Lƣơng biên soạn và hoàn thành vào niên hiệu Thiên Giám thứ 18 nhà Lƣơng (529), đƣợc đƣa vào Đại Chính Tạng, tập 50.
Trong sách có các tích truyện của các bậc cao tăng Trung Hoa từ niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10 đời Đông Hán Minh Đế, khi Phật giáo Ấn Độ mới truyền vào Trung Quốc, cho đến niên hiệu Thiên Giám thứ 18 nhà Lƣơng. Tổng số gồm hành trạng của 257 vị cao tăng chính xuất và phụ truyện gồm 243 vị. Tài liệu này giúp NCS tìm hiểu thêm về lịch sử thiền Tăng Trung Hoa và pháp mạch truyền thừa trƣớc khi vào Việt Nam (triển khai tại chƣơng 2). Về lịch sử, tư tưởng Thiền phái Tào Động ở Việt Nam và Sơn môn HPHN Các tài liệu Hán Nôm ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận án, có quyển Thiền Uyển Kế Đăng Lục của tác giả Nhƣ Sơn, soạn năm 173, tác giả Thích Thiện Phƣớc, dịch năm Ất Mùi 2015, Nxb.
Trong quyển này, từ trang 213 đến trang 299, tập trung giới thiệu về tôn chỉ, kệ truyền thừa và hành trạng của 41 vị Tổ sƣ của TPTĐ ở Trung Hoa: Từ tổ Thanh Nguyên Hành Tƣ truyền đến Tào Sơn Bản Tịch, 6 đời phát triển TPTĐ; tiếp 34 vị đến tổ Thuỷ Nguyệt Thông Giác Thiền sƣ, là ngƣời truyền TPTĐ sang Việt Nam. Bộ Kinh Pháp Hoa đề cương và Bát Nhã trực giải là 2 bộ luận do Thiền sƣ Thanh Đàm Minh Chính - Giác Đạo Tuân (1786-1848) tổ đời thứ 7 Sơn môn HPHN soạn năm 1819, là những tác phẩm quý giá, giúp luận án nghiên cứu đƣợc những tƣ tƣởng của các vị Tổ trong Sơn môn HPHN, hiện đang lƣu giữ tại chùa Hòe Nhai. Bộ Tăng Hộ kinh là bộ chuyện kể về Tỷ khiêu Tăng Hộ xuống Âm cung, thấy cảnh tra tấn nơi địa ngục. Đây là bài học rút ra để khuyên răn con ngƣời khi sống nên bỏ ác và làm lành để khi chết không bị đày ải, tra tấn… đó cũng là những ghi chép 12 khuyến cáo răn dạy môn đồ tu tập hành thiền trong Sơn môn.
Bộ kinh đƣợc in lại năm Cảnh Hƣng 18 (1757) tại chùa Hồng Phúc Hòe Nhai. [86] Các khoa cúng và trƣớc tác của các Tổ đƣợc lƣu truyền tại các chùa Hồng Phúc Hoè Nhai, và các chùa trong Sơn môn HPHN nhƣ chùa Võ Lăng, chùa Lại Yên, Chùa Tàu (Phổ Giác tự), Chùa Cầu Đông (Hà Nội); chùa Nhẫm Dƣơng (Hải Dƣơng); chùa Cổ Lễ, chùa Phú Ninh, chùa Cả, chùa Thọ Vực (Nam Định); chùa Phúc Chỉnh (Ninh Bình), … Về lịch sử Sơn môn HPHN, chủ yếu dựa vào thông tin còn đƣợc lƣu giữ trên các bia ký và các sách khoa cúng tại các chùa có truyền thừa TPTĐ. Để bổ sung những thiếu hụt đó, NCS khai thác thêm thông tin qua phỏng vấn sâu các vị tu hành, chức sắc thuộc TPTĐ trong Sơn môn HPNH ngày nay, đồng thời kế thừa và tiếp thu từ các nhà nghiên cứu tìm tòi về TPTĐ ở Việt Nam. Bộ Vĩnh Phúc Thiền phả ghi chép về sinh duyên và công đức của HT.
Thích Thanh Hanh, một trong những tổ sƣ tu học tại chùa Hoè Nhai và đƣợc suy cử làm thiền gia Pháp chủ Hội Phật giáo Bắc Kỳ; Cuốn Tào Động chính phái - Cúng tổ khoa - Hồng Phúc tự do đệ tử Lại Ngọc Quỳnh chép tay năm 1892. Tàng bản này có tại chùa Hồng Phúc Hòe Nhai, hiện đang là quyển khoa cúng tổ thông dụng của Sơn môn HPHN. Nói cách khác, đây là sách đƣợc dùng vào các ngày lễ giỗ Tổ hoặc các ngày sóc vọng của các chùa thuộc Sơn môn HPHN. Ở bản này có ghi tên của các vị tổ và các đời tổ kế đăng (truyền thừa).
Đây là bộ tƣ liệu về truyền thừa TPTĐ ở chùa Hồng Phúc Hoè Nhai; Trong Khoa cúng tổ chùa Cả, Nam Định viết trên giấy dó, gồm 65 trang, không ghi niên đại, hay tên tác giả. Ngay trong bài thơ đầu đã nói rõ về nguồn gốc của chùa Cả, có nguồn gốc từ dòng Tào Khê ở phƣơng Bắc (tức dòng Tào Động), đƣợc truyền đến đất Vị Thủy, đất Xuân Trƣờng, Vụ Bản, Nam Định. Ngoài ra còn nói đến các đời tổ thuộc TPTĐ ở Việt Nam và các vị tổ kế đăng ở chùa Cả. Ngoài ra, các bia ký do các vị tổ sƣ Việt Nam khắc bằng chữ Hán, trên các chất liệu gỗ, gạch, giấy,… có nội dung về truyền thừa Sơn môn HPHN, hiện còn đang lƣu trữ tại các ngôi chùa thuộc TPTĐ, cũng nhƣ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cụ thể: 13 Theo bản dập văn bia Hồng Phúc tự cổ văn bia ký ký hiệu NO 13541, lƣu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có nội dung về bà Nguyễn Thị Phán và ông Vũ Trọng Hƣng có công đức trùng tu xây dựng lại chùa; mặt sau của bia khắc năm Chính Hòa 24 (1703) nói về Thiền sƣ Tông Diễn đƣợc vua Lê Hy Tông cấp tiền trùng tu xây dựng lại chùa và cho khai mở TPTĐ tại đây.
Hiện nay, tại nhà tổ chùa Hoè Nhai còn lƣu giữ đôi câu đối nói về trí tuệ của Đức Phật đƣợc lƣu truyền tiếp nối và truyền bá đến núi Phƣợng Hoàng và ghi nhận tên tuổi của các vị tổ của TPTĐ đƣợc lƣu truyền ở Sơn môn này. Trong Tào Động chính phái - Khoa cúng tổ - Hồng Phúc tự, đƣợc lƣu giữ tại chùa Hồng Phúc Hòe Nhai cũng nói về chấn hƣng chốn Tùng Lâm Hồng Phúc dòng phái Tào Khê đƣợc truyền mãi lâu dài với các đời trụ trì nối tiếp dòng Thiền Tào Động, từ tổ Thuỷ Nguyệt (pháp huý Thông Giác Đạo Nam Thiền sƣ) với Linh Quang tháp, cho đến vị trụ trì đời thứ 47 là Phúc Long Tháp (tức pháp huý Tâm Nghĩa Thích Nhân Từ) Thiền sƣ. Tại chùa Hồng Phúc Hoè Nhai, Hà Nội hiện nay, bên cạnh chùa có một tấm bia bốn mặt do Tiến sĩ Hà Tông Mục soạn năm Chính Hòa thứ 24, Thiền sƣ Pháp Minh khắc và biên soạn lại năm 1932. Mặt chính của bia có tiêu đề Danh thuỷ bất hủ, (Danh tiếng lưu truyền không bao giờ mất, số hiệu NO 13539); Mặt khác của bia, nói về công đức xây dựng, hoằng truyền đạo và về các vị tổ sƣ Tào Động.
Văn bia Thánh Âm tự truyền đăng bi dựng vào tháng 2 năm Kỷ Hợi (1959), nói đến 3 vị tổ của chùa Hạ Long thuộc dòng phái Tào Động. Văn bia Tháp Viên Minh ở chùa Quảng Nghiêm, thị trấn Phú Thứ, Kinh Môn, Hải Dƣơng trong tháp thờ tổ thứ 3 TPTĐ ở Việt Nam, tức Tăng thống Tịnh Giác Đại Hòa thƣợng Hành Nhất Thiền sƣ, còn gọi là Thiền sƣ Nhƣ Sơn, từng trụ trì chùa Tƣờng Quang, chùa Hồng Phúc Hòe Nhai, nhƣng căn cứ Tháp Viên Minh thì Hòa thƣợng còn xây dựng và trụ trì chùa Quảng Nghiêm. Theo Kỷ niệm bi ký số hiệu N0 25223/24, đƣợc khắc năm Bảo Đại, Đinh Mão (1927), hiện lƣu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bia này hiện vẫn còn tại chùa Đồng Dƣơng, phƣờng Đồng Mai, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Ngoài các tƣ liệu bia ký nói trên, ở các chùa còn có các hoành phi, câu đối nói 14 về truyền thừa TPTĐ theo pháp mạch Hồng Phúc Hoè Nhai.