phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. KHÁI QUAT LICH SU HÌNH THÀNH VA QUÁ TRÌNH DU NHAP THIÊN LÂM TẾ VÀO PHÍA BẮC VIỆT NAM 1. Khái quát lịch sử hình thành thiền Lâm Tế ở Trung Quốc 1. Boi cảnh xã hội Trung Quốc thời kỳ thiền Lâm Tế ra doi Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cổ đại, dần dần truyền qua các nước Trung Á, rồi do sự giao lưu qua lại giữa Trung Quốc và các nước Trung Á mà Phật giáo được truyền nhập vào Trung Quốc, việc xác định niên đại chính xác Phật giáo du nhập vào Trung Quốc là điều rất khó khăn.
“Theo ghi chép, có nhiều thuyết khác nhau về niên đại Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc. Thuyết cô xưa nhất là vào thời Chu, người Trung Quốc đã biết có Phật giáo; lại có thuyết bắt đầu từ thời Hậu Hán Minh Để” [Thích Giải Hiền, 2018, tr. Trong cuốn Lịch sử Phật giáo Trung Quốc, tác giả Thích Giải Hiền phân tích: “Người Trung Quốc đã sớm biết sự tồn tại của Phật giáo, tuy lấy sự kiện Sở Vương Anh thờ Phật làm bắt đầu; nhưng Phật giáo củng cố cơ sở tại Trung Quốc có thé nói là vào cuối thời Hậu Hán, khi bắt đầu có sự phiên dịch kinh điển. Thời Hoàn Dé (146 — 167) cuối thời Hậu Hán tại vị, đã có hai vị tăng nhân là pháp sư An Thế Cao và pháp sư Chi — lâu —ca— sắm (Lokasema) đến Trung Quốc” [Thích Giải Hiền, 2018, tr.
Thời kỳ đầu Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, người Hán đã có khung văn hóa cô hữu tương đối vững chắc, nên để xâm nhập vào văn hóa người Hán, cần có hệ thống tư tưởng, tín ngưỡng của người Trung Quốc đương thời làm trung gian, từng bước Phật giáo ăn sâu vào đời sống nhân dân Trung Quốc. Thời kỳ Lưỡng Hán Ngụy Tan Nam Bắc Triều được coi là thời kỳ dẫn tiến lý luận và tiêu hóa Phật giáo ở Trung Quốc, đây được coi là giai đoạn sơ khởi Phật giáo du nhập Trung Hoa, Phật giáo thời kỳ này đã khá thịnh hành ở Trung Quốc, nhưng vẫn mang đậm dấu ấn Phật giáo An Độ. Phải đến giai đoạn sau thời Tùy — Đường, mới là thời kỳ người Trung Quốc mặc áo Trung 10 Hoa cho Phật giáo, là thời kỳ lý luận phát triển và hình thành Trung Hoa hóa Phật giáo, đặc biệt thời kỳ Nhà Đường. Thời Đường, Trung Hoa là một xã hội thịnh trị và thanh bình.
Nhà Đường, kéo dai trong khoảng 300 năm, có niên đại từ năm 618 đến năm 975. Nhà Đường được coi là đỉnh cao của nền văn minh Trung Quốc với nhiều đóng góp quan trọng trong văn học, thơ ca, văn chương, triết học và khoa học kỹ thuật. Thời kỳ này cũng là thời kỳ đỉnh cao của Đạo giáo và Phật giáo, với nhiều vị đạo Sư, VỊ thiền sư nổi tiếng. Với chính sách ưu tiên mở rộng lãnh thô, nhà Đường có được một lãnh thô rộng lớn hơn bat ky triều dai nao trước đó.
Tuy nhiên, lich sử Nhà Duong có giai đoạn bị gián đoạn, do là năm 690, Võ Tắc Thiên lên ngôi và tuyên bố sáng lập nhà Võ Chu, trở thành nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khi bị phế truất, nhà Đường tiếp tục phục hồi và trở thành một trong những triều đại lâu đời nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thời Đường, đời sống an ổn, kinh tế dồi dào, tư tưởng phóng khoáng lại thêm sự “ưu ái” Phật giáo đến từ tầng lớp thống trị, sự thịnh hành của Phật giáo thể hiện: “Mỗi khi gặp lễ hội Phật giáo, mọi người trây hội tham dự lễ gây ách tắc giao thông, người tham dự nghe giảng kinh vô số. Ngoài ra tầng lớp Nho sĩ trí thức cũng hứng thú tiếp nhận giáo lý Phật một cách nồng hậu, kết giao cùng tăng nhân rất nhiều.
Trong tăng sĩ, không ít người có học van uyên thâm, đều học tập lý luận Phật giáo. Cũng không ít người dám mạo hiểm thân mạng, dong thuyền vượt biển hay tréo non lội suối qua Tây Thiên Trúc du học; sau khi học xong, trở về nước thực hiện công tác phiên dịch kinh Phật. Các tăng sĩ đã biên soạn và trứ tác rất nhiều kinh sách. Cống hiến xây dựng kho tàng luận giải Phật giáo thêm phong phú, dẫn đến nền văn hiến Phật học thêm đồ sộ” [Huỳnh Hạ Niên, 2014, tr.
Thời Đường, Phật giáo Trung Hoa bắt đầu trở thành một dòng chảy chính tư tưởng của văn hóa tôn giáo xã hội, Phật giáo từng bước ăn sâu ảnh 11 hưởng đến các phương diện khác của toàn xã hội: triết học, nghệ thuật, kiến trúc,. Nhận xét về Phật giáo thời Đường ở Trung Hoa, tác giả Huỳnh Hạ Niên đã viết: “Đời Đường, là thời kỳ vàng son của Phật giáo Đại thừa. Tiến trình sáng tông lập phái “trăm hoa đua nở, muôn chim cùng hót”, rất thịnh hành và hoàng kim. Xuất hiện các học thuyết, học phái như: Thiên Thai tông, Tịnh Độ tông, Thiền tông.
Làm nền móng y cứ cho các Phật tử tu tập, dịch Kinh, tập Thiền và minh Luật. Từ bệ phóng này mà ảnh hưởng và phát tích rộng ra các hệ triết học, văn hiến học, khảo cứ học, tư tưởng sử, ngôn ngữ học, xã hội học, nhân loại học. về sau này” [Xem Huỳnh Hạ Niên, 2014]. Thiền tông là một nhánh quan trọng của Phật giáo Trung Hoa.
Trước Lục Tổ Huệ Năng, thiền tông Trung Quốc vẫn đậm dấu ấn của Phật giáo Ấn Độ, nhưng đến thời Lục Tổ Huệ Năng, Thiền bat đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng Thiền sư Huệ Năng mới thật sự là người Tổ khai sáng dòng Thiên tại Trung Quốc. Thiền tông ở Trung Quốc về lich sử có từ rất sớm, từ khi tổ Bồ Dé Dat Ma (? — 535) đến Trung Quốc lập cơ nghiệp, trở thành Tổ sư Thiền ở Trung Hoa. Kế tục Tổ sư Bồ Dé Đạt Ma là nhị tổ Huệ Khải (487 — 593).
Nhị Tổ truyền pháp cho tam tổ Tăng Xan (2 — 606), sau đó tứ t6 Dao Tin (580 — 651) nối nghiệp co đồ. Tổ Đạo Tín truyền pháp cho ngũ tổ Hoằng Nhẫn (601 — 674). Đệ tử của Ngài Hoang Nhẫn có hai người kiệt xuất là Than Tú (606 — 706) và Huệ Năng (638 — 713), từ hai vị thiền sư này đã hình thành nên hai chỉ lớn là Bắc tông thiền và Nam tông thiền. Phương Bắc do Đại sư Thần Tú duy trì giáo pháp, sử gọi Bắc tông, nhưng nhánh này dần mờ nhạt.
Nhánh Phương Nam do Lục Tổ Huệ Năng truyền dạy, sử gọi Nam tông, nhánh này phát triển mạnh mẽ và lưu truyền rộng rãi. Thiền Huệ Năng chủ trương không câu nệ hình thức, không chấp vào danh từ khái niệm, không chú trọng tọa thiên, chi cân nội tâm trực giác đôn ngộ. 12 Từ gốc ngài Lục Tổ Huệ Năng, cây Thiền Trung Quốc đâm chồi nảy lộc thành “Ngũ gia, thất tông”, là năm nhà và bảy tông của Thiền tông Trung Quốc. Ngũ gia gồm có: 1.
Quy Ngưỡng tông, do hai Thiền sư khai lập là Quy Sơn Linh Huu và môn đệ Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư; 2. Lâm Tế tông, do Thiền sư Lâm TẾ Nghĩa Huyền khai sáng; 3. Tào Động tông, do hai Thiền sư khai sáng, đó là Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn Bản Tịch; 4. Vân Môn tông, được Thiền sư Vân Môn Văn Yến, môn đệ của Tuyết Phong Nghĩa Tôn thành lập; 5.
Pháp Nhãn tông, do Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích thành lập (trước đó tông này cũng được gọi là Huyền Sa tông, gọi theo tên của Thiền sư Huyền Sa Sư BỊ, thầy của Thiền sư La-hán Quế Sâm, sư phụ của Đại Pháp Nhãn). Nếu ké cả hai nhánh của Lâm Tế tông được thành lập sau Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh) thì có tất cả là bảy tông: 1. Dương Kì phái, được Thiền sư Dương Kì Phương Hội thành lập; 2. Hoàng Long phái, được Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam sáng lập.
Như vậy, Tông Lâm Tế là một trong năm tông phái chính của Thiền tông Trung Quốc, đó là: Quy Nhưỡng, Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn và Pháp Nhãn. Lâm Tế khởi phát từ thời nhà Đường (618 -975) và hưng thịnh vào thời nhà Tống (960 -1279). Lược khảo về thiền Lâm Tế ở Trung Quốc Là một trong những tông phái lớn ở Trung Quốc, bên cạnh 4 tông phái khác Quy Nhưỡng, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn. Lâm Tế là một tông phái vượt trội, phát trién mạnh mẽ và trở thành môn phái quan trọng nhất của Phật giáo Trung Quốc.
13 + Đời thứ 1: Thiền phái Lâm TẾ được sáng lập do Tổ Lâm Tế (Nghia Huyền) (787 — 867), là truyền nhân của hệ phái Nam Nhạc Hoài Nhượng, nếu tính thừ thời Phật Thích Ca trở xuống thì thuộc hàng 38, tính từ sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thì được 11 đời, hệ phái Nam Nhạc thì được 5 doi. Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền là người xứ Nam Hoa, Tào Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Trong cuốn Thiền sư Trung Hoa tập 2, viết về thiền sư Nghĩa Huyền: Thuở nhỏ, Sư đã có chí xuất trần, đến lớn xuất gia thọ giới Cu túc. Thường dừng các nơi giảng pháp, nghiên cứu tinh tường giới luật, thâm hiểu Kinh luận, Sư than rang: Day là phương thức cứu đời, chưa phải yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.
Sư liền đi du phương [Xem Thich Thanh Từ, 2011, tr. Như vậy, đối với thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền học đạo là chưa đủ, học đạo mà chưa ngộ đạo thì cũng chưa phải là người đệ tử của đức Phật thật sự, chưa phải là cứu cánh của người học Phật, mới chỉ là “phương thức cứu đời, chưa phải yêu chỉ của giáo ngoại biệt truyền”. Nơi đầu tiên thiền sư đến là pháp hội Hoàng Bá. “Ở đây, Sư oai nghỉ nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn.
Thủ tọa (Trần Tôn Túc) thấy khen rang: “Tuy là hậu sinh cùng chúng mà chăng giống” [Xem Thích Thanh Từ, 2011, tr. Và sau này khi nói chuyện với Hòa thượng Hoang Bá, Thủ tọa đã nhận xét về thiền sư Lâm Tế: “Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp, nếu khi đến từ, Hòa Thượng dùng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một sốc đại thọ che mát người trong thiên hạ” [Xem Thích Thanh Từ, 201 1, tr. Thiền sư Lâm Tế đến thưa hỏi Hòa thượng Hoàng Bá ba lần nhằm hỏi về đại ý Phật pháp, nhưng kỳ lạ cả ba lần Hòa thượng đều không nói gì mà chỉ dùng gậy đánh.