Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIÁO XỨ SỞ KIỆN Từ Hà Nội xuôi về phía Nam dọc theo trục quốc lộ xƣơng sống 1A, qua thị xã Phủ Lý khoảng 3 km là đến Cầu Gừng, bên tay phải là con đƣờng đê trải đá dẫn vào lò vôi Chu Hà – cũng là con đƣờng chính để dẫn vào địa bàn thị trấn Kiện Khê – nơi tòa lạc của giáo xứ Sở Kiện. Xƣa hai bên đƣờng là ao hồ, lau sậy, dân cƣ thƣa thớt nay là nơi tụ cƣ đông đúc của ngƣời dân xã Thanh Tuyền. Đi hết con đƣờng nhỏ dài khoảng 4 km này là vào vùng đất thánh. Ngoài con đƣờng ấy, hàng trăm năm trƣớc, ngƣời ta cũng có thể đi vào giáo xứ bằng đƣờng thủy qua con sông Đáy.
Con sông Đáy chảy qua thành phố Phủ Lý rồi chảy vào địa bàn thị trấn. Ngày nay vào giáo xứ còn có một con đƣờng lớn mới làm vắt ngang cánh đồng làng. Giáo xứ Sở Kiện có khuôn viên nằm trên mảnh đất khoảng 9-10 ha (1) .Với địa thế gần trục giao thông xƣơng sống, lại sát núi, gần sông, đa dạng địa hình mảnh đất này từ thuở xa xƣa đã rất thích hợp cho các hoạt động tôn giáo. Lịch sử hình thành và phát triển giáo xứ Sở Kiện Sở Kiện là giáo xứ có lịch sử lâu đời.
Tuy nhiên cũng nhƣ nhiều giáo xứ giáo họ khác ở Việt Nam việc tìm hiểu lịch sử giáo xứ thông qua sự hình thành các họ đạo là việc làm khó bởi sự hạn chế của nguồn tƣ liệu. Các họ đạo ở Sở Kiện đƣợc hình thành cụ thể nhƣ thế nào qua các thời kỳ thì đến nay cũng chƣa đƣợc rõ. Chỉ biết rằng cho đến nay giáo xứ từng trải qua hai tên gọi một là Kẻ Sở và hai là Sở Kiện. Cách đặt tên giáo xứ cũng nhƣ cách đặt tên của nhiều giáo xứ giáo họ khác ở Việt Nam lấy tên làng để làm thành tên xứ.
Tên gọi của giáo xứ Sở Kiện là tên gọi ngày nay của giáo xứ. Khi mà giáo xứ có 8 giáo họ (Ninh Phú, Kiện Khê, Khắc Cần, Yên Xá, Ô Giang, Trung Thứ, Thủy Cơ, Ô Cách). Trong các văn bản, giấy tờ hiện dùng để trao đổi giữa giáo xứ và giáo phận Hà Nội thƣờng dùng danh xƣng này. Giáo dân hay chính quyền địa phƣơng cũng dùng tên gọi này.
(1) Theo Trương Công Ứng 14 z Danh xƣng Sở Kiện bắt đầu có từ khoảng năm 1980 thời linh mục Nguyễn Khắc Quế. Khi về quản xứ tại đây linh mục Quế đã đệ trình lên tổng giáo phận Hà Nội cho chuyển tên gọi cũ Kẻ Sở thành Sở Kiện. Còn từ khoảng năm 1980 trở về trƣớc, giáo xứ đƣợc biết đến với tên gọi Kẻ Sở. Khi đó giáo xứ có 17 giáo họ (Ninh Phú, Kiện Khê, Khắc Cần, Yên Xá, Ô Giang, Trung Thứ, Thủy Cơ, Ô Cách, Mậu Chử, Thƣợng Tổ, Hƣơng Kiều, Phạm, Do Nha, Thịnh Châu, Tân Lâm, Lại Xá, Lan Mát).
Tên gọi Kẻ Sở chính thức có trong văn bản của giáo hội từ khi nào thì hiện nay cũng chƣa đƣợc biết. Chỉ biết rằng từ sau năm 1862 khi thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngoài chính thức đƣợc chuyển từ Kẻ Vĩnh (cũng gọi là Vĩnh Trị - Nam Định) về mảnh đất Sở Kiện ngày nay thì tên gọi Kẻ Sở bắt đầu xuất hiện nhiều trên các sách kinh, sách học, bia mộ hay các công trình kiến trúc tôn giáo. Tên gọi Kẻ Sở lấy theo tên làng Sở cũng là làng Ninh Phú. Cơ sở vật chất tôn giáo của giáo xứ.
Theo Sở thảo lƣợc sử giáo họ Kiện Khê, trong khoảng cuối thế kỷ XVIII thị trấn Kiện ngày nay cũng nhƣ các vùng lân cận đƣợc biết đến là một vùng đất lau sậy thƣa thớt dân cƣ, làng đã có nhƣng ngƣời chƣa đông đúc. Tuy nhiên thời kỳ này đã có sự xuất hiện của các hoạt động tôn giáo. Theo truyền khẩu trong khoảng thời gian này đã có một số nhà truyền giáo đến rao giảng Phúc âm bằng đƣờng sông. Theo các thuyền buôn từ vùng biển Nam Định chở gạo, muối lên đây bán các nhà truyền giáo đã đi lẫn trong các thuyền rồi tranh thủ khi ngƣời dân đến mua hàng đông thì ra mặt giảng đạo.
Ban đầu ngƣời dân trong vùng đến nghe theo tính hiếu kỳ sau nhờ lời giảng đạo chân phƣơng, thấm đẫm đạo đời mà số lƣợng ngƣời dân trong vùng đến dự đông hơn. Trong thời buổi đó, các hoạt động rao giảng đƣợc thực hiện chủ yếu trên thuyền. Chủ thuyền đã dành cho các nhà truyền giáo một khoang thuyền riêng để cầu nguyện và giảng đạo. Đến nửa đầu thế kỷ XIX, để tiện cho việc rao giảng dạy dỗ bổn đạo mới ngƣời dân trong làng Kiện đã dựng lên trên đất liền những ngôi nhà tranh tre nứa lá cho các nhà truyền giáo ở và làm nhà cầu nguyện.
“Trong quãng thời gian 1820 – 1840 mặc dù có sắc chỉ cấm đạo nhưng các đấng vẫn thường xuyên cầu nguyện, rao giảng, rửa tội, làm các phép bí tích cho các giáo 15 z dân tân tòng” [1]. Năm 1862 hòa ƣớc Nhâm Tuất làm tình hình cấm đạo tại Việt Nam tạm thời lắng xuống, khi thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngoài đã bị phá bình địa thì các giáo sĩ Hội Truyền giáo Nƣớc ngoài Paris (MEP) đã quyết định di dời Tòa giám mục và các cơ sở đào tạo cũng nhƣ in ấn từ Vĩnh Trị lên mảnh đất Sở Kiện ngày nay thì từ đây đời sống tôn giáo của vùng chuyển sang một giai đoạn mới. Từ 1862 đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nơi đây trở thành thủ phủ hành chính của địa phận Tây Đàng Ngoài. Và để xứng tầm là thủ phủ hành chính về mặt tôn giáo cho toàn địa phận Tây Đàng Ngoài và là một trung tâm văn hóa Công giáo cho toàn Đàng Ngoài thời ấy, một hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo đã đƣợc gây dựng lên bao gồm: cơ sở in ấn, cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo linh mục, cơ sở phát triển đời sống giáo dân.
Có thể coi đây là giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển của giáo xứ. Nhà in Kẻ Sở có nguồn gốc là nhà in Kẻ Vĩnh chuyển qua (nhà in Kẻ Vĩnh ra đời từ năm 1855, dƣới sự điều hành của một thừa sai ngƣời Pháp tên tiếng Việt là Chiêu) do đó nhà in Kẻ Sở sau này đƣợc kế thừa thành tựu của nhà in cũ. Khi về Kẻ Sở cha Phƣớc cũng đã gửi mua thêm dụng cụ in từ Pháp (máy in chữ rời, máy in thạch, máy đóng sách). Do vậy mà nhà in Kẻ Sở đã trở thành một nhà in lớn và tƣơng đối hiện đại.
Chức năng chính của nhà in Kẻ Sở là in sách nhà đạo. Nhiều tác phẩm nhà đạo đã ra đời tại nhà in này hiện nay vẫn chƣa thể thống kê đƣợc hết. Tiêu biểu có các sách nhƣ: Sách Kính tháng Lái tim Đức Chúa Giêsu, Kẻ Sở, 1883; Đạo đức châm huấn (hay sách Selva) dịch, Kẻ Sở, 1887; Sách dẫn đàng cho đấng làm thày, Kẻ Sở, 1889; Thiên Chúa thánh mẫu I, II, Kẻ Sở, 1890; Sách ngắm các ngày trong năm I,II, Kẻ Sở, 1900; Lộ đức thánh mẫu, Kẻ Sở, 1892; Lộ đức thánh mẫu lượng ký, Kẻ Sở, 1896; Yên ủi kẻ liệt cùng lễ phép tống táng kẻ đã qua đời, Kẻ Sở, 1896; Đức Chúa Giêsu truyền sự kính thờ Lái Tim Người cho bà thánh Maria, Kẻ Sở, 1908; Những thu chung, từ 1895 đến 1901, Kẻ Sở, 1901; Sách thuật các thư chung, Kẻ Sở, 1908; 22 đấng thánh tử vì đạo, Kẻ Sở, 1909; Sách cấm phòng cho những trẻ em dọn mình chịu lễ lần đầu, Kẻ Sở, 1913; Tháng cầu cho các linh hồn luyện ngục, Kẻ Sở, 1922; Phụng vụ khoa học (Rituale), Kẻ Sở, 1926 16 z Ngoài chức năng in sách đạo, nhà in Kẻ Sở còn có chức năng in cả sách học, thuộc khoa học phổ thông nhƣ nhà in Tân Định tại Sài Gòn cũng vào thời điểm này. Theo lƣợc tính, nhà in Kẻ Sở đã xuất bản trên 100 đầu sách thuộc các loại: học tiếng Pháp, học tiếng La-tinh, triết học, thần học, giáo sử.
Các loại sách giáo khoa dùng cho các trƣờng học liên quan đến các bộ môn nhƣ: vật lý học, văn chƣơng, văn phạm, toán học, địa lý. Các sách tiêu biểu in tại nhà in Kẻ Sở nhƣ: Tự vị An Nam– Latin, J. Theurel, Kẻ Sở, 1887, Phép địa dư, Ninh Phú đƣờng, 1881; Địa dư trung học, năm phương địa cầu: thiên văn địa lý, địa dư hình thể, bang giao chính trị, lý tài, Kẻ Sở, 1932 ; Với nhà in ấy, tòa giám mục Kẻ Sở đã có một phƣơng tiện hữu hiệu để truyền bá Tin mừng. Nhƣng đồng thời cũng quan trọng không kém là đã đem lại cho ngƣời giáo dân nơi đây một đời sống mới.
Ngƣời dân sớm đƣợc tiếp xúc với những thành tựu kỹ thuật hiện đại của Châu Âu cũng nhƣ những tri thức quý báu của văn minh nhân loại. Cơ sở thờ tự đƣợc tạo dựng trong giai đoạn này quan trọng nhất là ngôi nhà thờ ông Thánh Giu se, nhà thờ Chính tòa Kẻ Sở và nhà thờ Trại Nhà thờ ông Thánh Giu se Nhà thờ ông Thánh Giu se đƣợc biết đến nhƣ là ngôi nhà thờ kiên cố đầu tiên của giáo xứ. Năm 1874 khi vua Tự Đức có phần buông lỏng việc cấm đạo thì một ngôi nhà thờ tƣờng xây, cột gỗ, ngói đất nung lợp mái đã ra đời thay thế cho các cơ sở bằng tranh tre nứa lá. Ngôi nhà thờ đƣợc xây trên diện tích 187 m2 và có thánh quan thầy là thánh cả Giu se.
Có nhà thờ, có thánh quan thầy, lại đƣợc các giám mục quan tâm đời sống tinh thần của ngƣời giáo dân thêm phần vững chắc, ngƣời theo đạo ngày một đông hơn [1]. Để củng cố hơn nữa cơ sở thờ tự tại trung tâm truyền giáo, để đáp ứng nhu cầu tâm linh của giáo dân ngày một đông hơn, ba năm sau trên mảnh đất làng Ninh Phú các giáo sĩ đã tiến hành xây dựng một ngôi nhà thờ mới mang tầm vóc quy mô lớn hơn đó chính là nhà thờ chính tòa Kẻ Sở. Nhà thờ chính tòa Kẻ Sở 17 z Năm 1877, trên một mảnh đầm của làng Ninh Phú, cha Phƣớc đã cho nạo vét toàn bộ đầm lầy rồi cho chôn dƣới đó hàng ngàn phiến gỗ lim để xây dựng nhà thờ. Vật liệu xây cất nhà thờ đƣợc sử dụng là gạch nung đỏ và vôi trộn với cát, mật mía.
Tƣơng truyền khi chọn điểm để đặt ngôi nhà thờ này, giám mục Phƣớc một ngƣời nƣớc ngoài nhƣng rất quan tâm đến phong thủy, địa lý phƣơng Đông đã xem rất kỹ thế đất và hƣớng quay của nhà thờ.