phần mở đầu của bài viết Gạo và thuốc phiện: Nghiên cứu về hoạt động mậu dịch của người Hoa ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX, tác giả Dương Văn Huy đã khẳng định: “Người Hoa đã trở thành lực lượng quan trọng, nắm giữ các hoạt động mậu dịch quan trọng của Việt Nam kể cả nội thương và ngoại thương và nhất là trong hoạt động mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc” [38]. Mặc dù có những đánh giá khác nhau về chính sách của nhà Nguyễn đối với Hoa thương; song cũng không thể phủ nhận vai trò của người Hoa trong hoạt động mậu dịch ở nước ta suốt nhiều thế kỉ, đặc biệt là từ thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX. Trong bài viết Mấy ý kiến về hoạt động thương nghiệp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVII-XIX (hiện tượng và bản chất) in trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5/1985, tác giả Nguyễn Quang Ngọc và Phan Đại Doãn khẳng định buôn bán nhỏ và chợ làng là hoạt động phổ biến ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Ở đây, nông nghiệp gắn liền với thủ công nghiệp, gia đình nông dân là một đơn vị kinh tế không tách rời mà gắn bó trong làng xã.
Do đó, nhu cầu mua bán, trao đổi có điều kiện nảy sinh sớm, thậm chí trong làng xã. Để làm rõ cho nhận định này, các tác giả đưa ra bằng chứng về số lượng chợ, mật độ phân bố các chợ, mặt hàng buôn bán trong chợ, thành phần tham gia buôn bán…. Theo các tác giả, vùng đồng bằng Bắc Bộ hầu như làng nào cũng có chợ, mỗi huyện có từ 18 đến 22 chợ và từ 4 đến 7 làng lại có một chợ chung. Các chợ chung này hoạt động theo định kì mỗi tháng 5 đến 6 14 phiên và mỗi phiên khoảng nửa ngày.
Khoảng 4 đến 5 chợ phiên họp lại thành một chu kì chợ khép kín. Thương phẩm ở chợ chủ yếu là của tiểu nông hay tiểu nông kiêm thương nghiệp và phục vụ, bổ sung cho tiểu nông. Không dừng lại ở việc nghiên cứu về hoạt động thương nghiệp nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ, tác giả Nguyễn Quang Ngọc đã mở rộng phạm vi nghiên cứu ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Trong bài viết in trên Tạp chí Kinh tế, số 5 (171), năm 1989 với tựa đề Thương nghiệp ở nông thôn Việt Nam truyền thống: mấy hiện tượng đáng lưu ý, ngoài việc đề cập đến vai trò của làng xã đối với sự ra đời các địa điểm, trung tâm buôn bán ở nông thôn, hiện tượng mở rộng hệ thống chợ làng ở thế kỉ XVIII - XIX, vai trò của phụ nữ trong việc đảm nhiệm công việc buôn bán ở nông thôn,… tác giả cũng đã nhấn mạnh đến hiện tượng làng buôn ở miền Bắc và thị tứ ở miền Nam.
Tác giả không đánh giá cao hiện tượng làng buôn; ngược lại, tác giả đánh giá cao hoạt động thương nghiệp nông thôn ở miền Nam với sự ra đời và phát triển của các thị tứ. Tác giả viết: “Trên vùng đất phía Nam, tổ chức làng xã, tình hình kinh tế, xã hội tuy vẫn nằm trong xu thế phát triển chung của cả nước nhưng cũng có nhiều đặc điểm riêng…. Kinh tế hàng hóa tuy chưa có lịch sử phát triển lâu dài nhưng lại có tốc độ phát triển mạnh và ở thời điểm thế kỉ XVIII- XIX, nó ở trình độ cao hơn so với đồng bằng Bắc Bộ…. Ở khu vực này có nhiều trung tâm công thương nghiệp nhỏ ra đời giữa vùng nông thôn mà nhân dân thường gọi là thị tứ” [63].
Để làm sáng tỏ cho nhận định này, tác giả đã lấy làng Kiên Mỹ (Tây Sơn, Bình Định) làm minh chứng. Trong đó, tác giả đề cập đến chợ Kiên Mỹ và cho rằng chợ rất đông đúc, nhân dân ở thành dãy như dãy phố…. Cuối bài viết, tác giả đã đề cập đến vai trò của thương nhân người Hoa và người Việt gốc Hoa trong các hoạt động buôn bán ở nông thôn Việt Nam nói chung và trong các chợ ở thị tứ miền Trung nói riêng. Đây là những thông tin cần thiết cho việc tìm hiểu cơ sở hình thành và phát triển mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn với sự hình thành, phát triển của các thị tứ ở khu vực này trước thế kỉ XIX.
Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, xã hội (Nxb. Mũi Cà Mau, 1992) là một trong những nghiên cứu chuyên sâu về làng xã Việt Nam của tác giả Phan Đại Doãn. Xuất phát từ góc độ lịch sử, xã hội học gắn với thực tiễn đất nước, nội dung cuốn sách tập trung phân tích những vấn đề chính thuộc làng xã Việt Nam. Trong 15 khi đề cập đến thương nghiệp nông thôn, tác giả khẳng định: Chợ làng có vai trò thương nghiệp rất quan trọng.
Trên cơ sở phân loại chợ làng, phân tích cơ cấu mặt hàng của chợ… tác giả đưa ra một số nhận xét bước đầu về mạng lưới chợ nông thôn. Tuy nhiên, tác giả cũng mới chỉ đề cập một số vấn đề chung nhất về chợ thông qua tìm hiểu đặc điểm kinh tế - xã hội của nông thôn truyền thống ở đồng bằng sông Hồng và các tỉnh miền Trung. Tác giả chưa dành nhiều dung lượng để nghiên cứu một cách sâu sắc và cụ thể về chợ của từng vùng hay từng địa phương, nhất là ở các tỉnh Nam Trung Bộ. Năm 1993, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho xuất bản cuốn Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII - XIX của tác giả Nguyễn Quang Ngọc.
Đây là tác phẩm nghiên cứu về kinh tế thương nghiệp làng xã Việt Nam lấy đối tượng nghiên cứu là một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ. Tác giả đã trình bày, phân tích những nét cơ bản về hoạt động mua bán ở chợ và hình thức làng buôn. Tuy nhiên, hoạt động của chợ chỉ được nhắc đến trong mối tương quan so sánh với làng buôn. Trong đề tài khoa học cấp Nhà nước với tựa đề Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn; những vấn đề đặt ra hiện nay (1998), tác giả Đỗ Bang mặc dù tập trung hướng vào việc khảo cứu tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn nhưng cũng dành một phần đáng kể khảo cứu về kinh tế.
Khi đề cập đến kinh tế thương nghiệp triều Nguyễn, tác giả đã phân tích chính sách của triều Nguyễn đối với thương nghiệp, những điều kiện để giao lưu hàng hóa (giao thông, đo lường, tiền tệ). Trên cơ sở đó, tác giả khái quát tình hình nội thương và ngoại thương dưới triều Nguyễn. Theo tác giả, Hoa thương là đối tượng chính trên thương trường nước ta dưới triều Nguyễn. Trong khi đó, thương nhân người Việt phần lớn là các tiểu thương; một số trường hợp buôn bán lớn, buôn bằng ghe bầu nhưng tỉ lệ này không cao so với lực lượng Hoa thương.
Đề cập đến thị trường trong nước, tác giả khẳng định: “Phố phường, chợ búa đã tạo nên hệ thống thương mại tuy không trù phú, sầm uất nhưng đã thể hiện một sức sống của nền sản xuất với bao kiềm tỏa của chính sách, quan niệm và tập quán của nhân dân” [11, tr. Trong Luận án Tiến sĩ (năm 2004) với nhan đề Chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX, tác giả Trương Thị Yến đã có những khái quát, phân tích, đánh giá các chính sách thương nghiệp (nội thương, ngoại thương) của 16 triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỉ XIX. Những nghiên cứu cụ thể của tác giả về chính sách nội thương của triều Nguyễn như: Chính sách thuế thương nghiệp, chính sách thu mua hàng hóa, chính sách giá cả, tiền tệ, thống nhất đơn vị đo lường,… là những dữ liệu quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu về chính sách phát triển nội thương của triều Nguyễn (một trong những cở sở đưa đến sự ra đời hoặc tiếp tục phát triển của các chợ ở Nam Trung Bộ). Một trong những công trình tiêu biểu nhất liên quan đến đề tài tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu lịch sử Việt Nam là cuốn Lịch sử Việt Nam, tập 5, từ năm 1802 đến năm 1858 của nhóm các tác giả Viện Sử học biên soạn, Nxb.
Khoa học Xã hội, năm 2013 (tái bản năm 2017). Công trình là kết quả nghiên cứu có hệ thống của các nhà nghiên cứu Trương Thị Yến, Vũ Duy Mền, Nguyễn Đức Nhuệ, Nguyễn Hữu Tâm và Phạm Ái Phương về lịch sử Việt Nam (từ năm 1802 đến năm 1858) trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao…. Trong đó, các tác giả đã dành nhiều dung lượng nghiên cứu về hoạt động thương nghiệp Việt Nam giai đoạn 1802-1858. Ngoài việc đề cập đến hoạt động thương nghiệp của nhà nước (thu mua hàng hóa, thống nhất đơn vị đo lường, tiền tệ, thuế thương nghiệp), hoạt động ngoại thương, các tác giả đặc biệt quan tâm đến hoạt động thương nghiệp của nhân dân, nhấn mạnh đến các đô thị với vai trò trung tâm thương nghiệp, các phường buôn và các chợ ở địa phương.
Khi đề cập đến chợ, các tác giả cho rằng: Mạng lưới thị trường địa phương đã có từ lâu đời. Sự phát triển về mặt số lượng cũng như sự phong phú về mặt hàng hóa của chợ đã phản ánh sinh động hoạt động thương nghiệp của nhân dân. Trên đà phát triển của kinh tế hàng hóa, các thị trường địa phương có xu hướng ngày càng mở rộng, nhưng vẫn chưa thấy có biểu hiện của sự liên kết, tập trung để tiến tới sự ra đời của thị trường cả nước. Nối tiếp Lịch sử Việt Nam, tập 5; cuốn Lịch sử Việt Nam, tập 6 (từ năm 1858 đến năm 1896) do tác giả Võ Kim Cương (chủ biên), Nxb.
Khoa học Xã hội, năm 2013 (tái bản năm 2017) đã cung cấp những nội dung cơ bản về giai đoạn lịch sử rất đặc biệt-giai đoạn thực dân Pháp tiến hành quá trình xâm lược Việt Nam. Ngoài việc đề cập đến tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược; công trình này đã làm rõ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp xâm lược cũng như những chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam ở nửa cuối thế kỉ XIX. 17 Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử hình thành, phát triển của một vùng đất/địa phương cũng đã dành nhiều dung lượng tìm hiểu về kinh tế địa phương nói chung và kinh tế thương nghiệp nói riêng, trong đó có nhắc đến chợ, thời gian họp chợ hay vị trí các chợ…. Ví như, Lịch sử thành phố Quy Nhơn của tác giả Nguyễn Tấn Hiểu (cb), Nxb.