Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn (giai đoạn 1802 - 1884)". Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (chuyên sâu về Lịch sử kinh tế - xã hội), triển khai theo hướng tiếp cận nghiên cứu định tính của khoa học lịch sử.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Làng xã Việt Nam và hoạt động kinh tế thương nghiệp nông thôn là một trong những đối tượng nghiên cứu trọng tâm của Sử học. Hoạt động thương nghiệp ở nông thôn chủ yếu diễn ra tại các chợ và thị tứ – nhân tố phản ánh mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội giữa làng xã với vùng, miền và cả nước. Thế kỉ XIX có vị trí đặc biệt trong tiến trình lịch sử dân tộc, là giai đoạn bản lề chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến dưới tác động của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ giai đoạn 1802 - 1884 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc:

  • Về mặt khoa học: Nguồn tư liệu ghi chép về kinh tế thương nghiệp nông thôn, làng xã và chợ búa ở Nam Trung Bộ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX còn rời rạc, hiếm hoi và tản mát. Chưa có công trình chuyên khảo nào tái hiện một cách toàn diện, có hệ thống diện mạo, hoạt động và vai trò của mạng lưới chợ tại khu vực Nam Trung Bộ dưới thời Nguyễn tự chủ.
  • Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu đáp ứng định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống đặc trưng của chợ theo Quyết định số 6481/QĐ-BCT ngày 26/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ toàn quốc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Đồng thời, công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử địa phương tại các tỉnh Nam Trung Bộ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Thứ nhất: Thu thập, hệ thống hóa các nguồn tư liệu để có cái nhìn khái quát về mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn (1802 - 1884); tái hiện diện mạo các chợ tiêu biểu và làm rõ hoạt động thương mại trên các phương diện: trao đổi hàng hóa, giá cả, lệ thuế, đơn vị đo lường, thành phần thương nhân; rút ra nhận xét về đặc điểm và vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội.
  2. Thứ hai: Làm rõ sự tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế và truyền thống văn hóa - xã hội đến mạng lưới chợ; nhận diện rõ hơn đặc điểm kinh tế - xã hội và lý giải mức độ phát triển của kinh tế hàng hóa, kinh tế thương nghiệp (nhất là nội thương) ở Nam Trung Bộ giai đoạn 1802 - 1884.
  3. Thứ ba: Bổ sung nguồn tư liệu khoa học phục vụ nghiên cứu, học tập và giảng dạy lịch sử địa phương vùng Nam Trung Bộ.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu liên quan; kế thừa và phát huy kết quả của các công trình đi trước, xác định những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
  2. Phân tích các cơ sở hình thành và phát triển của mạng lưới chợ tại Nam Trung Bộ.
  3. Tái hiện diện mạo một số chợ tiêu biểu (chợ lớn, chợ trung tâm, chợ đầu mối...) ở cả vùng trung du, miền núi và vùng đồng bằng, ven biển, cửa sông.
  4. Làm rõ hoạt động trao đổi, buôn bán ở chợ và mối liên hệ kinh tế nội vùng, liên vùng và quốc tế.
  5. Chỉ ra những đặc điểm nổi bật và khẳng định vai trò của mạng lưới chợ đối với sự phát triển toàn diện của vùng đất Nam Trung Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ, trong đó tập trung khảo sát các chợ tiêu biểu phân bố tại các vùng địa hình: trung du, miền núi, đồng bằng, ven biển và cửa sông.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 5 tỉnh Nam Trung Bộ hiện nay gồm: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận (tương ứng vùng thứ VI trong sơ đồ phân chia lãnh thổ 9 vùng của Việt Nam). Về mặt lịch sử thời Nguyễn, đây là khu vực hành chính trực thuộc mang tên Tả kỳ (gồm Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận - bao gồm cả phần đất Ninh Thuận).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1802 - 1884, bắt đầu từ khi vua Gia Long lập nên triều Nguyễn, hoàn thành thống nhất đất nước, cho đến khi triều đình ký kết Hiệp ước Harmand (1883) và Hiệp ước Patenotre (1884), xác lập quyền bảo hộ của thực dân Pháp và chấm dứt thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hóa tại các chợ. Các yếu tố văn hóa được xem xét trong mối tương quan với sinh hoạt kinh tế và diện mạo chợ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.

Các hướng nghiên cứu của học giả trong nước

Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung chính liên quan đến đề tài
Kinh tế - xã hội thời Nguyễn và thương nhân Hoa kiều - Nguyễn Thế Anh (Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, 1971/2008)
- Trương Thị Yến (1981, 2004)
- Châu Hải (1994)
- Dương Văn Huy
Khảo cứu hoạt động ngoại thương, nội thương; vai trò của thương nhân người Hoa; phân tích chính sách thương nghiệp triều Nguyễn và phương châm ứng xử "nhu viễn nhân" đối với Hoa thương.
Thương nghiệp làng xã và mô hình thị tứ - Nguyễn Quang Ngọc, Phan Đại Doãn (1985, 1993)
- Nguyễn Quang Ngọc (1989)
- Phan Đại Doãn (Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, xã hội, 1992)
- Đỗ Bang (1998)
Phân tích mật độ chợ nông thôn Bắc Bộ (18-22 chợ/huyện, chu kỳ chợ phiên); so sánh hiện tượng làng buôn miền Bắc với mô hình thị tứ miền Nam (tiêu biểu như thị tứ Kiên Mỹ - Tây Sơn, Bình Định).
Thông sử và Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX - Viện Sử học (Lịch sử Việt Nam, tập 5, 2013/2017)
- Võ Kim Cương chủ biên (Lịch sử Việt Nam, tập 6, 2013/2017)
Trình bày toàn diện hoạt động thương nghiệp giai đoạn 1802 - 1858 và 1858 - 1896; phân tích thị trường địa phương và các biến động kinh tế thời kỳ đầu Pháp xâm lược.
Lịch sử địa phương và địa chí Nam Trung Bộ - Nguyễn Tấn Hiểu (Lịch sử thành phố Quy Nhơn, 1998)
- Đỗ Bang, Lê Thế Vịnh (Lịch sử Phú Yên thế kỉ XIX, 2009)
- Quách Tấn, Nguyễn Đình Tư, Phạm Trung Việt, Huỳnh Minh
Cung cấp dữ liệu về các chợ lớn (chợ Gò Duối, chợ Đèo, Nước Mặn, Gò Bồi...), thuế chợ, cùng mô hình "trường giao dịch" buôn bán biên giới giữa người Kinh với Thủy Xá, Hỏa Xá tại Phú Yên.
Phố cảng, đô thị và mạng lưới sông - biển - Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992)
- Đỗ Bang (1996)
- Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (1999)
- Nguyễn Công Thành (2007)
- Nguyễn Văn Giác (2015)
- Nguyễn Văn Kim, Đỗ Trường Giang, Đỗ Thị Thùy Lan (2011, 2018)
Nghiên cứu sự hình thành các thị tứ ven sông, đô thị Quy Nhơn (1837), các phố cảng (Nước Mặn, Vũng Lấm, Nha Trang, Phan Rí); mô hình giao lưu ven các lưu vực sông (sông Côn, sông Cái) kết nối miền núi - đồng bằng - biển.
Nghiên cứu chuyên biệt về chợ - Nguyễn Đức Nghinh (1979, 1980, 1981)
- Đỗ Thị Bích Tuyển (2006)
Khảo sát chợ làng, chợ chùa vùng Bắc Bộ và giá trị tư liệu của 88 văn bia chợ từ Nghệ An trở ra.

Các hướng nghiên cứu của học giả nước ngoài

  • Ghi chép địa lý, tài nguyên và dân tộc học: Ấn phẩm Xứ An Nam vào năm 1906 (L’Annam en 1906) ghi nhận khí hậu, thủy văn, công thương nghiệp các tỉnh miền Trung; Henri Maitre với tác phẩm Rừng người Thượng (1912/2008) phân tích biểu thuế vùng cao nguyên và hoạt động trao đổi giữa đồng bào thiểu số với người miền xuôi.
  • Tư liệu từ Tập san Người bạn Cố đô Huế (BAVH): Các tài liệu biên dịch như Biên khảo về xứ Đàng Trong của Jean Baptiste Chaigneau (1820), khảo cứu của Deloustal về thuế khóa và tài chính An Nam, tài liệu của Raymond Le Jarriel về vùng Tây Nguyên thế kỷ XIX.
  • Lịch sử kinh tế - xã hội và quan hệ thương mại: Yoshiharu Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885, 1982/2011); Li Tana (Xứ Đàng Trong, Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18, 1998) khẳng định phương thức trao đổi bằng tiền tệ phát triển mạnh tại Đàng Trong; Choi Byung Wook (2008) nghiên cứu về sự chuyển dịch trong thương mại giữa Hoa thương và thương nhân Việt.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận thương nghiệp ở quy mô toàn quốc, tập trung vào ngoại thương, thương cảng hoặc chợ ở đồng bằng Bắc Bộ. Chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và toàn diện về mạng lưới chợ nông thôn, mối liên hệ giao thương nội địa và vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội tại khu vực 5 tỉnh Nam Trung Bộ trong suốt giai đoạn triều Nguyễn tự chủ (1802 - 1884).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý luận và khái niệm

Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cơ sở lý luận được tham chiếu từ các tác phẩm kinh điển: Bàn về các xã hội tiền tư bản, Sản xuất hàng hóa, lưu thông và phân phối.

  • Mạng lưới chợ được nhìn nhận là một hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan, vận động và biến đổi không ngừng trong mối quan hệ đa chiều với các yếu tố tự nhiên, tổ chức hành chính, cơ cấu nông nghiệp tiểu nông, hoạt động thủ công nghiệp, tập quán cư dân và chính sách quản lý của nhà nước phong kiến.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp hai phương pháp chuyên ngành lịch sử xuyên suốt và các phương pháp liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Trình bày sự hình thành, phát triển và hoạt động của mạng lưới chợ theo tiến trình thời gian, đặt trong bối cảnh các giai đoạn trị vì của các vua triều Nguyễn: Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức.
  • Phương pháp logic: Kết nối các sự kiện, hiện tượng kinh tế để làm rõ bản chất, mối liên hệ nhân quả giữa điều kiện tự nhiên, sản xuất hàng hóa và mạng lưới chợ; khái quát đặc điểm và khẳng định vai trò của chợ đối với vùng Nam Trung Bộ.
  • Phương pháp điền dã thực địa: Khảo sát dấu tích các chợ cổ, bến chợ, thị tứ tại các địa phương để kiểm chứng và bổ sung dữ liệu.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh - đối chiếu: Đối chiếu tư liệu thành văn của triều đình với ghi chép của phương Tây, đối chiếu thư tịch với kết quả khảo sát thực tế.

Nguồn tư liệu sử dụng

Phân loại tư liệu Nguồn tư liệu cụ thể Giá trị cung cấp cho luận án
Thư tịch gốc triều Nguyễn - Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định, 1806)
- Đại Nam nhất thống chí (Quốc Sử quán, 1882 - 1910)
- Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện
- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Tục biên
- Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long)
- Địa bạ triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn
Cung cấp tên gọi, vị trí các chợ, đường giao thông thủy bộ, trạm dịch, thổ sản, quy định tiền tệ, đơn vị đo lường, quy chế định giá, tổ chức thu thuế chợ, thuế quan tân, thuế biệt nạp và quy định pháp lý về thương mại.
Ghi chép của phương Tây - Cristoforo Borri (1621)
- Alexandre de Rhodes
- Pierre Poivre (1744)
- Jean Baptiste Chaigneau (1820)
- Báo cáo của Tòa Công sứ Pháp (cuối thế kỷ XIX)
Khảo cứu về phong tục, địa hình, cảng khẩu (Nước Mặn, Nha Trang), nguồn tài nguyên, giá cả hàng hóa và tiềm năng thương mại trước và trong thời kỳ Pháp can thiệp.
Tư liệu dân gian và khảo sát thực địa - Ca dao, tục ngữ, hò vè địa phương
- Tư liệu điều tra điền dã tại 5 tỉnh Nam Trung Bộ
Cung cấp thông tin bổ trợ về danh xưng dân gian, sản vật buôn bán đặc trưng và không gian phân bố thực tế của các chợ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này phân tích, tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm chính:

  • Các nghiên cứu trong nước về lịch sử kinh tế, văn hóa - xã hội, chính sách thương nghiệp triều Nguyễn và vai trò của người Hoa.
  • Các nghiên cứu về phố cảng, đô thị cổ, thị tứ và mối quan hệ giao thương biển - lục địa lưu vực các sông miền Trung.
  • Các công trình của học giả nước ngoài và các bài viết chuyên biệt về chợ làng, văn bia chợ.

Tác giả xác lập cơ sở khoa học, khẳng định những kết quả cần kế thừa và chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu mà luận án trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Sự hình thành và phát triển mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ

Chương 2 làm rõ các tiền đề lịch sử, tự nhiên, kinh tế, xã hội và chính sách tác động đến sự hình thành mạng lưới chợ:

  • Địa bàn hành chính và bối cảnh lịch sử: Vùng Nam Trung Bộ thời Nguyễn được tổ chức thành khu vực Tả kỳ (gồm Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận). Cư dân trải qua quá trình khai hoang, ổn định sau các biến động nội chiến cuối thế kỷ XVIII.
  • Cơ sở kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp:
    • Nông nghiệp Nam Trung Bộ có tỷ lệ ruộng đất tư chiếm ưu thế tuyệt đối (khác biệt với Bắc Bộ do truyền thống khai hoang thời chúa Nguyễn). Phép chia ruộng đất tại Bình Định năm 1839 phản ánh nỗ lực quản lý của triều đình. Nông nghiệp lúa nước cùng việc canh tác cây công nghiệp (mía, dâu, cau, dừa, thuốc lá) tạo ra lượng nông sản hàng hóa lớn.
    • Thủ công nghiệp phát triển với các làng nghề chuyên môn hóa cao: làng rèn Tây Phương Danh (Đập Đá, An Nhơn, Bình Định), nón Gò Găng (Nhơn Thành, Bình Định), dệt lụa Ngân Sơn (Tuy An, Phú Yên), nghề sản xuất nước mắm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.
  • Sự phát triển của hệ thống thị tứ và đô thị: Mạng lưới thị tứ hình thành dọc các sông và trục lộ giao thông: Tam Quan, Gò Găng, Đập Đá, An Thái, Gò Bồi, Quy Nhơn (Bình Định); La Hai, Sông Cầu, Chí Thạnh xung quanh phố cảng Vũng Lấm (Phú Yên); Nha Trang (Khánh Hòa); Phan Rí (Bình Thuận).
  • Nhân tố cộng đồng cư dân: Nam Trung Bộ là không gian cộng cư của người Kinh, Chăm, Ba-na, Raglai, Ê-đê, H’rê và người Hoa. Người Việt tiếp thu truyền thống kinh tế mở, nghề đi biển của người Chăm; cộng đồng người Hoa đóng vai trò là lực lượng xúc tác thúc đẩy thương nghiệp nông thôn và thị tứ.
  • Chính sách của triều Nguyễn: Vừa mang tính chất "trọng nông ức thương" với hệ thống thuế phức tạp (thuế thân, thuế điền, thuế biệt nạp/chuyên lợi, thuế quan tân, thuế chợ, thuế nguồn), vừa có các biện pháp hỗ trợ kinh tế như thống nhất đo lường, đúc tiền, cải tạo đường thủy bộ và áp dụng chính sách "nhu viễn nhân" ưu đãi thương nhân Hoa kiều lập phố mở chợ.

Chương 3: Hoạt động trao đổi, buôn bán ở chợ Nam Trung Bộ

Chương 3 tái hiện bức tranh hoạt động thương nghiệp cụ thể tại các chợ:

  • Cơ cấu mặt hàng buôn bán: Đa dạng và phong phú, bao gồm: lâm thổ sản (kỳ nam, trầm hương, sừng tê, ngà voi, quế, mật ong); nông sản (lúa gạo, mía đường, dầu dừa, cau, thuốc lá); hải sản (cá, tôm, mắm, muối); hàng thủ công mỹ nghệ và công cụ (nón lá, đồ rèn, đồ đồng, gốm, lụa).
  • Luồng lưu thông hàng hóa và tuyến giao thương: Hình thành các tuyến luân chuyển tự nhiên: miền núi - trung du - đồng bằng - ven biển, kết nối qua các lưu vực sông chính (sông Côn ở Bình Định, sông Cái ở Phú Yên và Khánh Hòa).
  • Mô hình "Trường giao dịch": Tại vùng tiếp giáp miền núi (tiêu biểu ở Phú Yên tiếp giáp Thủy Xá, Hỏa Xá), trường giao dịch đóng vai trò là điểm thu thuế bằng hiện vật của nhà nước, sau đó chuyển thành các phiên chợ biên giới miễn thuế trong 4-5 ngày để người Kinh và các dân tộc thiểu số trao đổi sản vật, sau phát triển thành các chợ đầu mối thực thụ.
  • Lực lượng thương nhân: Tiểu thương người Việt (chủ yếu là phụ nữ nông thôn) đảm nhận việc buôn bán lẻ tại các chợ làng; Hoa thương đóng vai trò lực lượng bán buôn, thu mua gom hàng hóa từ các chợ địa phương để đưa về các thị tứ, phố cảng phục vụ xuất khẩu hoặc chuyển đi các trung tâm lớn (Huế, Gia Định).
  • Quy chế vận hành chợ: Việc quản lý chợ, đo lường, quy định tiền tệ và chống lừa gạt, ép giá được điều chỉnh chặt chẽ bởi Hoàng Việt luật lệ và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ.

Chương 4: Đặc điểm và vai trò của mạng lưới chợ đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội ở Nam Trung Bộ

  • Đặc điểm của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ:
    • Mật độ phân bố gắn liền với hệ thống giao thông thủy bộ, đặc biệt là vị trí ven sông, cửa biển (gắn liền bến đò, bến chợ).
    • Mạng lưới chợ có tính chất tầng bậc rõ rệt: từ chợ làng nhỏ lẻ phục vụ tự cấp tự túc, đến chợ thị tứ đa chức năng, chợ giao dịch trường miền núi và chợ trung tâm phố cảng hướng biển.
    • Chợ mang tính chất mở, phản ánh tính năng động của nền kinh tế hàng hóa ven biển và sự đan xen văn hóa đa tộc người.
  • Vai trò của mạng lưới chợ:
    • Về kinh tế: Làm rạn nứt cấu trúc tự cung tự cấp khép kín của kinh tế tiểu nông phong kiến; kích thích sản xuất nông nghiệp hàng hóa và các làng nghề thủ công phát triển; tạo lập mối liên kết thị trường nội vùng, liên vùng (với Bắc Kỳ, Nam Kỳ) và kết nối với ngoại thương.
    • Về văn hóa - xã hội: Chợ là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi giao lưu thông tin, định hình chuẩn mực ứng xử xã hội, củng cố mối quan hệ đoàn kết giữa người Kinh với đồng bào các dân tộc thiểu số (Chăm, Ba-na, Ê-đê...) và cộng đồng người Hoa; góp phần làm giàu bản sắc văn hóa dân gian vùng Nam Trung Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Khai thác, tập hợp và hệ thống hóa nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy về mạng lưới chợ và kinh tế thương nghiệp nông thôn Nam Trung Bộ thời Nguyễn (1802 - 1884).
  • Góp phần nhận diện diện mạo làng xã Nam Trung Bộ; làm sáng tỏ mức độ phát triển của kinh tế hàng hóa giản đơn trong khuôn khổ chế độ phong kiến triều Nguyễn.
  • Khái quát được hệ thống các đặc điểm và khẳng định vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đất Tả kỳ trong lịch sử.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Tư liệu giáo dục: Cung cấp nguồn tài liệu lịch sử kinh tế - xã hội có hệ thống phục vụ công tác giảng dạy, học tập bộ môn Lịch sử địa phương tại các cơ sở giáo dục phổ thông, trường Cao đẳng và Đại học trên địa bàn 5 tỉnh Nam Trung Bộ.
  • Cơ sở hoạch định chính sách: Cung cấp kênh tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương trong việc hoạch định chính sách phát triển, quy hoạch chợ truyền thống theo hướng văn minh, hiện đại nhưng vẫn bảo tồn những nét đặc trưng văn hóa lịch sử của chợ nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn sử liệu thành văn thế kỷ XIX ghi chép trực tiếp về hoạt động nội thương và chợ nông thôn Nam Trung Bộ còn tản mát, chưa liền mạch. Kết quả thu thập tư liệu điền dã thực tế còn hạn chế do sự thay đổi địa giới, cảnh quan và sự mai một của các dấu tích chợ cổ qua thời gian.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng phạm vi điều tra thực địa, khảo sát sâu hơn các nguồn tư liệu dân gian, địa bạ, gia phả, hương ước tại từng thôn xã cụ thể nhằm tái hiện chi tiết hơn mô hình hoạt động của các chợ làng nhỏ lẻ ở từng tiểu vùng sinh thái.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Lịch sử: Đặc biệt hữu ích trong các chuyên đề về Lịch sử Việt Nam cận đại, Lịch sử kinh tế Đàng Trong, Lịch sử triều Nguyễn và Lịch sử địa phương các tỉnh miền Trung.
  2. Nhà nghiên cứu văn hóa, dân tộc học: Cung cấp dữ liệu về quan hệ tộc người (Kinh - Hoa - Chăm - Thượng) và không gian văn hóa chợ truyền thống.
  3. Cán bộ hoạch định chính sách ngành Công thương và Văn hóa: Cung cấp luận cứ lịch sử phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới chợ nông thôn và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu cụ thể như thế nào?

Không gian nghiên cứu là địa bàn 5 tỉnh Nam Trung Bộ hiện nay gồm Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận (thời Nguyễn thuộc khu vực hành chính Tả kỳ). Thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 1802 (năm thành lập triều Nguyễn) đến năm 1884 (năm ký Hiệp ước Patenotre, chấm dứt thời kỳ triều Nguyễn tồn tại với tư cách quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ).

2. Nguồn tư liệu gốc chữ Hán chủ yếu được luận án khai thác gồm những công trình nào?

Luận án khai thác các bộ sách lớn do Quốc Sử quán và Nội các triều Nguyễn biên soạn: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định, 1806), Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1802-1851) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên (1852-1889), Hoàng Việt luật lệ, cùng các tập Địa bạ triều Nguyễn và Châu bản triều Nguyễn.

3. Mô hình "Trường giao dịch" ở miền núi Nam Trung Bộ thời Nguyễn có đặc điểm gì?

Trường giao dịch là trạm thu thuế bằng hiện vật của nhà nước phong kiến đối với vùng đầu nguồn (núi rừng). Sau khi hoàn thành việc trưng thu thuế (chuyển nộp về kinh đô), tại đây diễn ra hình thức chợ phiên miễn thuế kéo dài từ 4 đến 5 ngày để cư dân người Kinh và các dân tộc thiểu số (như tại vùng Thủy Xá, Hỏa Xá ở Phú Yên) trao đổi, mua bán sản vật. Về sau, các điểm này phát triển thành những chợ đầu mối thực thụ.

4. Lực lượng thương nhân người Hoa có vai trò như thế nào đối với hoạt động chợ ở Nam Trung Bộ?

Dưới chính sách "nhu viễn nhân" của triều Nguyễn, thương nhân người Hoa được phép lập phố, mở chợ, tham gia các bang hội. Trong khi thương nhân người Việt chủ yếu hoạt động buôn bán nhỏ lẻ tại các chợ làng, Hoa thương là lực lượng then chốt nắm giữ các hoạt động bán buôn, thu mua gom lâm thổ sản, hải sản từ các chợ địa phương để vận chuyển đến các thị tứ, phố cảng phục vụ nhu cầu liên vùng và xuất khẩu.

5. Đặc điểm phân bố nổi bật của các chợ và thị tứ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn là gì?

Hầu hết các chợ lớn và thị tứ ở Nam Trung Bộ đều phân bố dọc theo các tuyến giao thông thủy bộ, nằm ven các dòng sông lớn (như sông Côn, sông Cái) và gắn liền với bến đò, bến chợ; tạo thành hệ thống kết nối tự nhiên giữa các nguồn hàng hóa từ miền núi/trung du xuống vùng đồng bằng và đổ ra các phố cảng ven biển.


Kết luận

Luận án "Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn (giai đoạn 1802 - 1884)" là một công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội chuyên sâu, tái hiện diện mạo, cơ chế vận hành và vai trò của hệ thống chợ nông thôn tại 5 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong thế kỷ XIX. Bằng phương pháp luận duy vật lịch sử kết hợp nguồn thư tịch Hán Nôm và ghi chép phương Tây, tác giả đã làm rõ mối liên hệ hữu cơ giữa điều kiện tự nhiên, cơ cấu sản xuất tiểu nông, chính sách quản lý nhà nước và hoạt động thương nghiệp nội địa. Công trình không chỉ khẳng định vai trò thúc đẩy sản xuất và liên kết xã hội của mạng lưới chợ trong lịch sử, mà còn cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giáo dục lịch sử địa phương và quy hoạch phát triển chợ truyền thống hiện nay.