CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về lợi thế thương mại Các công trình nghiên cứu về LTTM trên thế giới hiện nay tập trung vào hai hướng chính, đó là: Đánh giá ảnh hưởng của LTTM đối với GTTT của các công ty niêm yết trên TTCK và đánh giá mức độ tuân thủ trong công bố thông tin LTTM của các công ty niêm yết trên TTCK.1 Các nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của lợi thế thương mại đối với giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Các nghiên cứu về ảnh hưởng của LTTM đến GTTT của các công ty niêm yết trên TTCK được chia thành ba nhóm: Nghiên cứu ảnh hưởng của LTTM trình bày trên bảng cân đối kế toán hợp nhất đối với GTTT của các công ty niêm yết trên TTCK; Nghiên cứu ảnh hưởng của việc phân bổ LTTM đối với GTTT của các công ty niêm yết trên TTCK và nghiên cứu ảnh hưởng của việc đánh giá suy giảm LTTM đối với GTTT của các công ty niêm yết trên TTCK.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của lợi thế thương mại trình bày trên bảng cân đối kế toán hợp nhất đối với giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của LTTM trình bày trên bảng cân đối kế toán hợp nhất đối với GTTT của các công ty niêm yết trên TTCK đều tập trung vào đánh giá xem các nhà đầu tư có coi LTTM là tài sản và có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên TTCK hay không? các tác giả đều nhận định rằng LTTM có ảnh hưởng tích cực đối với GTTT của các công ty niêm yết và từ đó các tác giả kết luận rằng LTTM được các nhà đầu tư coi là tài sản. Sau đây là một số nghiên cứu tiêu biểu: Wang (1993) đã chọn mẫu nghiên cứu là các công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ của Mỹ gồm 67 công ty năm 1988 và 69 công ty năm 1989. Tác giả đã hồi quy giá trị ghi sổ của lợi thế thương mại, các tài sản khác ngoài lợi thế thương mại và nợ phải trả theo giá trị thị trường của công ty cho kết quả hệ số ước lượng của lợi thế thương mại lớn hơn 1 và có ý nghĩa thống kê. Như vậy, lợi thế thương mại có mối quan hệ dương với GTTT của doanh nghiệp.
Điều này chỉ ra rằng LTTM có tác động tích cực đối với GTTT của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu của Wang (1993) sử dụng quy mô mẫu nhỏ nên kết quả nghiên cứu chưa đủ độ tin cậy để suy rộng cho tổng thể các công ty niêm yết trên TTCK. Wang (1995) cũng đã hồi quy LTTM, tài sản luan an 9 khác và nợ phải trả theo GTTT của các công ty Mỹ có công bố LTTM với mẫu lớn hơn gồm 3728 quan sát. Kết quả nghiên cứu của Wang (1995) cho thấy hệ số ước lượng của LTTM cao hơn hệ số ước lượng của các tài sản khác.
Từ đó, tác giả đã kết luận rằng thị trường định giá LTTM cao hơn các tài sản khác. Điều này chứng tỏ, LTTM có ảnh hưởng tác động đến GTTT của các doanh nghiệp lớn hơn ảnh hưởng của các tài sản khác. Chauvin (1994) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa LTTM và GTTT của doanh nghiệp với mẫu nghiên cứu gồm 2693 quan sát trong thời gian 3 năm từ 1989 đến 1991 lấy từ cơ sở dữ liệu Compustat. Các công ty trong mẫu nghiên cứu phải có vốn hoá thị trường ít nhất là 100 triệu đôla Mỹ.
Để làm rõ ảnh hưởng của LTTM đối với GTTT của doanh nghiệp, tác giả đã đưa thêm các biến độc lập như lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu và phát triển, thị phần, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định hữu hình, tăng trưởng và beta vào mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy LTTM có mối quan hệ dương với GTTT của các doanh nghiệp phi sản xuất, nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với các doanh nghiệp sản xuất. McCarthy và Schneider (1995) nghiên cứu mối quan hệ giữa LTTM và GTTT của doanh nghiệp cùng với các biến độc lập khác trong mô hình như giá trị ghi sổ của tài sản trừ lợi thế thương mại, nợ phải trả và thu nhập đã cho thấy các nhà đầu tư có xem xét LTTM khi định giá công ty và ảnh hưởng của LTTM tới việc định giá công ty ít nhất cũng ngang bằng với các tài sản khác. Jennings và cộng sự (1996) đã hồi quy GTTT của các doanh nghiệp Mỹ theo nhà xưởng, máy móc, thiết bị, lợi thế thương mại, tài sản khác và nợ phải trả gồm 259 quan sát từ năm 1982 đến 1988.
Kết quả cho thấy thị trường định giá LTTM cao hơn so với nhà xưởng, máy móc, thiết bị và các tài sản khác. Kết quả nghiên cứu có sự thống nhất cao với kết quả nghiên cứu của Wang (1995) và kết quả nghiên cứu của Dahmash và cộng sự (2009). Các nghiên cứu trên đều có hạn chế giống nhau đó là không tách riêng được ảnh hưởng của LTTM đã phát sinh của các giao dịch mua cũ với LTTM phát sinh của giao dịch mua mới. Điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả mối quan hệ giữa LTTM và GTTT của doanh nghiệp vì LTTM của giao dịch mới phát sinh là đại diện cho các lợi ích kinh tế trong tương lai mà doanh nghiệp có thể đạt được còn LTTM của các giao dịch mua cũ được phân bổ hoặc đánh giá suy giảm nên nó đại diện cho những tổn thất của doanh nghiệp (Henning và cộng sự, 2000).
luan an 10 Để khắc phục nhược điểm trên, Henning và cộng sự (2000) đã tách LTTM của các giao dịch cũ và giao dịch mới để đánh giá riêng. Trong đó, LTTM của giao dịch mới phát sinh được chia thành 4 bộ phận độc lập: Bộ phận thứ nhất là chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị ghi sổ của tài sản thuộc công ty bị mua; bộ phận thứ hai là chênh lệch giữa giá trị thị trường của công ty bị mua và giá trị hợp lý của tài sản thuộc công ty bị mua; bộ phận thứ ba là thu nhập bất thường tích luỹ do hợp nhất đối với công ty bị mua và công ty mua trong 11 ngày thông báo mua; bộ phận thứ tư là chênh lệch giữa giá mua với tổng cộng giá trị ghi sổ của công ty bị mua trước khi mua và ba biến trên. Bộ phận thứ tư thể hiện rằng công ty mua đang trả giá quá cao trong thương vụ mua. Kết quả cho thấy nhà đầu tư có sự đánh giá khác nhau đối với từng bộ phận của lợi thế thương mại.
Ba bộ phận đầu có mối quan hệ dương với giá trị thị trường của doanh nghiệp. Đây là bằng chứng cho thấy các nhà đầu tư coi ba bộ phận đầu của lợi thế thương mại là tài sản và làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp mua. Bộ phận thứ tư có mối quan hệ âm với giá trị thị trường của doanh nghiệp cho thấy việc trả giá cao làm suy giảm giá trị thị trường. Tương tự như Henning và cộng sự, Churyk và Chewning (2003) đã khắc phục hạn chế ảnh hưởng hỗn hợp của LTTM tăng và giảm bằng cách lựa chọn mẫu chỉ gồm các công ty có LTTM giảm liên tiếp.
Các tác giả dễ dàng xác định được chỉ tiêu phân bổ LTTM bằng cách lấy chênh lệch số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ của LTTM trên bảng cân đối kế toán hợp nhất mặc dù rất ít các công ty công bố số LTTM phân bổ. Phát triển từ mô hình của Feltham và Ohlson (1995) về mối quan hệ giữa GTTT và giá trị ghi sổ của vốn chủ, các tác giả đã tách biến LTTM ra khỏi giá trị ghi sổ của vốn chủ và tách giá trị phân bổ LTTM ra khỏi biến lợi nhuận bất thường. Hệ số của các biến giá trị ghi sổ của vốn chủ trừ lợi thế thương mại, biến lợi thế thương mại và lợi nhuận bất thường đều lớn hơn 0. Kết quả này ngụ ý rằng thị trường nhận định LTTM là tài sản có giá trị.
Trái ngược với các nghiên cứu về ảnh hưởng của LTTM dương đối với GTTT của các công ty niêm yết, Comiskey và cộng sự (2010) tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của LTTM âm đối với GTTT của các công ty để đánh giá xem liệu các nhà đầu tư có xem xét đến giá trị của LTTM âm khi định giá công ty. Các tác giả đã tách riêng phần LTTM phát sinh từ các giao dịch mua cũ và LTTM phát sinh từ giao dịch mua mới trong năm báo cáo để nghiên cứu. Đối với LTTM phát sinh từ giao dịch mua mới, các tác giả chỉ lựa chọn mẫu gồm những công ty có LTTM âm. Do đó, quy mô mẫu của nghiên cứu này rất nhỏ chỉ gồm 43 quan sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, LTTM luan an 11 âm không có ảnh hưởng tác động đối với GTTT của các công ty hay nói cách khác là các nhà đầu tư không quan tâm tới LTTM âm. Qureshi và Ashraf (2013) đã thu thập dữ liệu của các công ty của Anh thuộc các ngành khác nhau từ năm 1998 đến 2003. Nghiên cứu sử dụng mô hình định giá của Ohlson để hồi quy GTTT của doanh nghiệp theo LTTM, các tài sản khác trừ lợi thế thương mại, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí quảng cáo tương tự như nghiên cứu của Chauvin và cộng sự (1994). Tuy nhiên, nghiên cứu này đưa thêm 3 biến mới là lợi nhuận, cổ tức và ảnh hưởng tiêu cực của tăng vốn khi mua.
Các tác giả đã chứng minh rằng LTTM có ảnh hưởng đáng kể đối với giá trị thị trường của doanh nghiệp. Điều này cho thấy các nhà đầu tư coi LTTM như là một nguồn lực kinh tế. Nghiên cứu của Ahmed và Guler (2007) về ảnh hưởng của LTTM đối với GTTT của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ, giai đoạn từ năm 1999 đến 2004, trong bối cảnh có sự chuyển đổi từ phương pháp kế toán phân bổ LTTM sang đánh giá sự suy giảm của LTTM. Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tác động cố định để nghiên cứu tác động của LTTM đối với GTTT của các công ty niêm yết.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa LTTM và GTTT của các công ty niêm yết. Như vậy, LTTM vẫn được các nhà đầu tư coi là một tài sản có giá trị ngay cả khi các công ty Mỹ chuyển sang áp dụng phương pháp đánh giá sự suy giảm của LTTM.