Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI BUÔN LẬU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết của việc quy định tội buôn lậu theo luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội buôn lậu Buôn lậu là một trong các loại tội nguy hiểm, không chỉ làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nước, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước, gây ra những hậu quả to lớn khác về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Thuật ngữ “buôn lậu” đã xuất hiện từ lâu trong các văn bản của Nhà nước ta.
Thông tư số 33-VH/HS ngày 5-7-1958 của Bộ Tư pháp đã quy định cụ thể việc xử lý buôn lậu. Nghị quyết của Bộ Chính trị (khóa III) ngày 12/1/1974 cũng đã nhấn mạnh, theo đó, quy định phải tìm cho ra và nghiêm trị bọn lưu manh, trộm cắp, đầu cơ, buôn lậu chuyên nghiệp. Khi quy định vào thời điểm đó, theo từ điển nghiệp vụ phổ thông của Bộ Công an thì buôn lậu được hiểu là mua bán lén lút, trái phép những hàng hóa thuộc diện Nhà nước cấm vận hoặc Nhà nước thống nhất quản lý. Chưa có quy định cụ thể và rõ ràng về định tội danh cụ thể tội buôn lậu [8,tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt, buôn lậu có nghĩa là “buôn bán hàng hoá trốn thuế hoặc hàng quốc cấm” [26,tr.87]; còn Từ điển Bách khoa Việt Nam thì định nghĩa “buôn lậu” là “hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá hoặc ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, những vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá mà Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hoá nói chung mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của hải quan; hành vi buôn bán trốn thuế, lậu thuế những loại hàng hoá ở trong nước mà Nhà nước cấm kinh doanh” [26,tr. Như vậy, có thể hiểu buôn 8 luan an lậu là buôn bán trái phép qua biên giới các loại hàng hoá, tiền tệ nói chung, kể cả các loại hàng cấm hoặc hàng không cấm, vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, tiền tệ mà nhà nước đã ban hành. Các hành vi buôn bán trái phép các loại hàng hoá, tiền tệ qua biên giới được nhiều người thực hiện trong khoảng thời gian dài từ năm này sang năm khác, mặc dù đã bị các cơ quan chức năng của nhà nước xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau mà vẫn không thể ngăn chặn, loại trừ được có thể gọi là tệ nạn buôn lậu. Tệ nạn buôn lậu tồn tại, phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả ở Việt Nam đã kéo dài hàng trăm năm.
Qua đây, chúng ta thấy rằng, thuật ngữ buôn lậu đã xuất hiện rất lâu, được đưa vào từ điển và có sự thay đổi hoàn thiện phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Buôn lậu là: Buôn bán hàng trốn thuế hoặc hàng quốc cấm hoặc buôn lậu là: Buôn hàng cấm hoặc hàng trốn thuế. Tuy nhiên, tiếp cận một cách đầy đủ hơn theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam thì buôn lậu là: “Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới thể hiện dưới các dạng: Buôn bán các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm nhập khẩu, xuất khẩu, nhưng đã tìm mọi cách để trốn thuế, sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ không hợp lệ hoặc trái với quy định về xuất khẩu, nhập khẩu” [7, tr.134]; Bên cạnh đó, tại Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị coi là tội phạm buôn lậu nếu có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới “Hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100 trăm triệu đồng trở lên hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này…”. Ngoài ra, tại Điều 188 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Tội buôn lậu được quy định như sau: “1.
Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định của pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000 đồng đến dưới 300.000 đồng hoặc dưới 100.000 đồng 9 luan an nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này”. Như vậy, điểm đặc trưng để có thể nhận diện hành vi buôn lậu: có hành vi buôn bán trái phép từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài các đối tượng sau đây: hàng hoá; tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ; Kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá; hàng cấm. Việc buôn bán trái phép được thể hiện ở chỗ mua hoặc bán không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép xuất, nhập khẩu và các quy định khác của Nhà nước về hải quan Trường hợp kinh doanh xuất nhập khẩu đúng giấy phép nhưng khai không đúng số lượng khai ít hơn số lượng thực nhập hoặc nhập vượt quá mức mà giấy phép xuất, nhập khẩu cho phép thì cũng bị coi là buôn lậu nhưng chỉ truy cứu trách nhiệm đối với phần chưa khai hoặc xuất nhập khẩu vượt mức cho phép. Từ phân tích như trên, đồng thời xuất phát từ thực tiễn tình hình khách quan của hoạt động buôn lậu, cũng như yêu cầu đấu tranh chống tội phạm buôn lậu ở Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về tội buôn lậu như sau: Tội buôn lậu là nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định, thực hiện do cố ý (cố ý trực tiếp), Tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới quốc gia các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, các loại vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, các loại hàng cấm nhằm mục đích kiếm lời 1.
Đặc điểm của tội buôn lậu Việc hiểu đúng đặc điểm của tội buôn lậu sẽ giúp cho việc áp dụng các biện pháp điều tra, cưỡng chế, ngăn chặn đúng quy định, thực hiện thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ và đúng pháp luật, giúp cho việc 10 luan an phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh có căn cứ pháp luật. Đặc điểm của của tội buôn lậu có những dấu hiệu riêng để phân biệt những tội buôn lậu với các tội danh khác: - Hành vi phạm tội buôn lậu xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, di vật, cổ vật, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa. Chính sách xuất nhập khẩu hàng hóa của Nhà nước luôn thay đổi theo từng thời kỳ để phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước cũng như thế giới. Đối tượng tác động là những hàng hoá; tiền đồng Việt Nam, ngoại tệ (như USD, Yên…); kim khí quý, đá quý (vàng, bạc, kim cương…); Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá; hàng cấm (bị Nhà nước cấm lưu thông).
Từ BLHS năm 2015 đã bỏ đối tượng là “hàng cấm” ra khỏi tội buôn lậu mà chuyển hẳn sang tội buôn bán hàng cấm tại Điều 190. - Có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại. Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới các mặt hàng trên của người phạm tội là hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để trao đổi trái phép với các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới như: Vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu mà không khai báo hoặc khai báo một cách gian dối; giấu giếm hàng hóa, tiền tệ; không có giấy tờ hợp lệ, sử dụng các giấy tờ giả mạo của các cơ quan có thẩm quyền; vận chuyển hàng hóa bí mật, lén lút không qua cửa khẩu để trốn tránh sự phát hiện của cơ quan Nhà nước, có thẩm quyền (Hải quan, Bộ đội biên phòng, các lực lượng tuần tra, kiểm soát khác…). Hành vi này có thể được thực hiện bằng đường bộ, đường thủy, đường không hoặc đường bưu điện, ví dụ như: hành vi không khai báo thể hiện ở việc người buôn bán các mặt hàng kể trên qua biên giới nhưng không thực hiện nghĩa vụ khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về chủng loại, số lượng theo đúng quy định, người phạm tội có thể bằng cử chỉ, lời nói từ chối thẳng thừng việc khai báo 11 luan an hoặc không chịu ghi vào tờ khai hải quan theo các mục của Hải quan yêu cầu…Khai báo gian dối là hành vi người buôn bán hàng hóa, tiền tệ, kim khí, đá quý, các vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa hoặc hàng cấm qua biên giới quốc gia tuy có khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng sự khai báo đó không phù hợp với thực tế số lượng, chủng loại nhằm đánh lừa các cơ quan đó.
Biểu hiện cụ thể của hành vi này có thể là: Khai báo không đúng về số lượng, chủng loại; hàng mới khai là hàng cũ; hàng cấm xuất nhập khẩu lại khai là hàng được phép xuất nhập khẩu; hàng bị đánh thuế cao lại khai là loại hàng bị đánh thuế thấp. - Về giá trị hàng phạm pháp làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, định khung. "Đối với hàng hoá, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý phải có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên.