đặt vấn đề khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu như sau: Thứ nhất: Tín ngưỡng thờ Mẫu đã và đang trở thành một loại hình tôn giáo sơ khai của người Việt. Theo như tác giả Hoàng Lương: “Đạo Mẫu trong quá trình nảy sinh, vận động và biến đổi đã và đang chuyển hóa từ tín ngưỡng nguyên thủy để trở 11 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. thành một tôn giáo sơ khai” [54, tr.
Chính vì lẽ đó mà tín ngưỡng thờ Mẫu: “đã là một tôn giáo chứ không còn là một tín ngưỡng, theo kiểu thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng anh hùng dân tộc tại một số đền riêng lẻ. Đạo Mẫu đã có những hoạt động mang tính đặc trưng tôn giáo” [52, tr. Trên thực tế, trước những năm 1975, ở miền Nam Việt Nam cũng hình thành một cộng đồng thờ Mẫu mang tính chất giáo hội với tên gọi là Tiên Thiên Thánh Mẫu Giáo, tập hợp các tín đồ toàn Miền Nam. Còn ở miền Bắc hiện nay cũng hình thành một số trung tâm thờ Mẫu như Đền Đồng Bằng (Thái Bình), Phủ Dầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa), Phủ Tây Hồ (Hà Nội).
Thứ hai: Tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ dừng lại ở loại hình một tín ngưỡng dân gian. Bởi lẽ: “Về mặt tâm linh, cũng như quy mô tín đồ nó đầy đủ yếu tố một tôn giáo, nhưng nó lại thiếu hẳn một triết thuyết để đủ sức trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh” [28, tr. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thông: “hình tượng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ không phải là một tôn giáo chính thống. Xu thế biến Mẫu thành tôn giáo chính thống hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái quy luật, không đúng với tiến trình phát triển” [78, tr.
Còn tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng: “thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát”. Thứ ba: Xem thờ Mẫu là một tập tục, một tín ngưỡng truyền thống của người Việt. Theo tác giả Trương Sĩ Hùng: “trường hợp tục thờ Mẫu ở Việt Nam biểu hiện rất rõ, phát triển đến mức gần như một tôn giáo của người Kinh” [39, tr. Cùng với quan điểm đó, tác giả Mai Thanh Hải cũng đưa ra nhận định: “Tục thờ Mẫu có sức lan truyền mạnh tới mức nhiều nơi đã lan tỏa mạnh mẽ…” [27, tr.
Thứ tư: Quan niệm cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu là một Đạo. Đại biểu của cách nhìn nhận này là tác giả Ngô Đức Thịnh. Theo ông: “chúng tôi sử 12 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107.
dụng thuật ngữ đạo như Đạo Mẫu, Đạo tổ tiên… Khái niệm “Đạo” ở đây theo ý nghĩa là con đường, cách thức đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên” [76, tr. Qua đó cho thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tín ngưỡng thờ Mẫu, tuy nhiên cách hiểu đúng nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian có khởi thủy là tín ngưỡng sùng bái nữ thần, tôn xưng người phụ nữ, khoác lên mình họ những sức mạnh siêu nhiêu thần thánh. Trải qua quá trình phát triển và biến đổi, loại hình tín ngưỡng này vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Mặc dù đã có sự thay đổi về diện mạo, nhưng trên thực tế xét trên phương diện cấu trúc và tiêu chí về một tôn giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn chỉ dừng lại là tín ngưỡng dân gian chứ chưa thể được công nhận là một tôn giáo vì bản thân nó chưa có kết cấu hoàn chỉnh và trên thực tế chưa được Nhà nước ta công nhận là tôn giáo.
Đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu a) Đặc trưng về sự ra đời Sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu cho thấy tín ngưỡng thờ Nữ thần xuất hiện từ rất sớm trong đời sống xã hội. Ngay từ thời kỳ của xã hội công sản nguyên thủy ở giai đoạn Mẫu hệ người ta đã thấy dấu hiệu của tục thờ Nữ thần, trong giai đoạn này người phụ nữ đóng vai trò là người tổ chức, quản lý xã hội và là người lãnh đạo xã hội. Cũng trong thời kỳ này trồng trọt và hái lượm là phương thức tạo nguồn thức ăn cho cả thị tộc, những hoạt động kể trên gắn chặt con người với tự nhiên mà người trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc chính là người phụ nữ (đàn ông hoạt động trong lĩnh vực săn bắn và không mang lại nguồn thức ăn thường xuyên, ổn định). Với tính đặc trưng ấy đã tạo ra cho họ một niềm tin, một khát vọng cho một cuộc sống sinh sôi, nảy nở của sản vật tự nhiên phục vụ con người, sự sinh sôi ấy đương nhiên thuộc về giống cái.
Về mặt logic, đây chính là hình thức tín ngưỡng của tất cả cộng 13 Footer Page 17 of 107. Header Page 18 of 107. đồng, tộc người ở một giai đoạn lịch sử trong tiến trình phát triển. Sự phát triển của tín ngưỡng từ sơ khai đến hiện đại đều cho thấy có những hình thức tín ngưỡng tôn giáo được thay bởi hình thức tín ngưỡng khác để phù hợp với những đòi hỏi của đời sống trần tục và tâm linh.
Những phần bị mất đi, bị thay thế không phải là sự phủ định sạch trơn và không để lại những dấu vết trong đời sống của con người mà nó được những tín ngưỡng sau đó chọn lọc, tiếp thu và kế thừa. Việt Nam là một quốc gia có sự hình thành và phát triển rất sớm, những tài liệu khảo cổ học gần đây chứng minh rằng không chỉ tộc Việt ở khu vực phía Bắc, mà cả các tộc ở khu vực Tây Nguyên, khu vực Nam bộ đã được hình thành từ rất sớm và đạt trình độ phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa khá cao. Thông qua sự phát triển này chúng ta có thể khẳng định phần nào tín ngưỡng của Việt Nam xuất hiện từ rất xa xưa trong lịch sử và hình thành các tộc người. Trong các tín ngưỡng đa thần thời kỳ ấy, tín ngưỡng thờ Mẫu là một hình thức xuất hiện từ khá sớm, với một số những khảo vật còn tồn tại đến ngày nay giúp chúng ta xác định được việc này.
Ví dụ như hình tượng quan hệ nam nữ trên thạp trống đồng ở đền Hùng, hình tượng đánh trống bằng chày ở đền Hùng, lễ hội Nõ – Nường ở Lâm Thao, Phú Thọ, lễ hội Tắt đèn – Hà Tây. vừa là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực vừa là biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu và cũng là những dấu hiệu để xác định tín ngưỡng thờ Mẫu. Việc tín ngưỡng thờ Mẫu tồn tại từ xa xưa cho đến nay được lý giải thông qua đặc điểm của cư dân Việt. Cư dân Việt là cư dân trồng lúa nước, do vậy họ coi trọng chủ thể của cái sinh sôi nảy nở, mà cái chủ thế ấy là giống cái và cho đến nay nông nghiệp - nông thôn - nông dân chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập, địa bàn lớn và tỷ lệ dân cư.
Trong khi Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, tuy nhiên trong làng xã nông nghiệp những yếu tố truyền thống (trong đó có đề cao vai trò của người phụ nữ) đã 14 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107. được duy trì, củng cố, bảo lưu nên vai trò của Nho giáo ở đây bị hạn chế. Mặc dù Nho giáo đề cao vai trò của người đàn ông, của con trưởng, nhưng trong mỗi gia đình làng xã Việt Nam, vai trò của người phụ nữ vẫn không hề bị xem nhẹ, họ vẫn là “tay hòm chìa khóa” và được quyền quyết định những việc quan trọng, ví dụ như câu “lệnh ông không bằng cồng bà” cho đến hiện nay vẫn tồn tại và mang tính quyết định.
Nền sản xuất nông nghiệp lúa nước đã sớm hình thành nên lối tư duy trọng thủy, trọng âm, trọng nữ. Trong tâm thức của người xưa, những đặc tính “nữ - cái” hay tính chất “nảy nở - con” luôn gắn cho nhiều đối tượng như đường cái, trống cái, cột cái… Sự gán ghép ấy không phải là ngẫu nhiên, vì đằng sau đó là mong muốn cây lúa ngoài đồng sinh ra nhiều nhánh đem lại mùa màng bội thu và còn cả khát vọng lớn lao được “con đàn, cháu đống” trong nếp nghĩ của người nông dân. Trải qua hàng nghìn năm của xã hội thị tộc Mẫu hệ, vai trò của người mẹ được đề cao hoàn toàn. Hình ảnh người mẹ là tất cả trong mỗi thành viên và của cộng đồng từng đơn vị cư trú.
Cho đến khi hình thái gia đình một vợ một chồng phát triển thay thế cho hình thái gia đình thị tộc mẫu hệ thì vai trò của người mẹ vẫn giữ vị trí chủ yếu trong gia đình. Đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu là thờ sinh sản mà sinh sản ở đây có cội nguồn từ tự nhiên, nơi con người và sinh vật sinh ra và phát triển. Quan niệm trời là cha, đất là mẹ cũng xuất phát từ đó. Ngửa mặt lên là bầu trời bao la với biết bao bí ẩn của thời tiết, khí hậu; dưới chân là mặt đất với muôn vàn động thực vật giúp kiếm tìm sự sống, đất cũng chính là mẹ.
Con người khi sinh ra, trưởng thành rồi chết đi trở về với đất, đó vừa là nhận thức vừa là cách ứng xử của con người với tự nhiên. Cùng với tiến trình của nhân loại, ý thức mẹ đã thường trực trong từng cá thể và ngày nay nó càng được củng cố. Mẹ là tất cả, là chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần. Từ thời nguyên sơ con người đã tôn sùng thiên nhiên như 15 Footer Page 19 of 107.
Header Page 20 of 107. là Mẹ: Mẹ Trời, Mẹ Núi, Mẹ Sông, Mẹ Biển. Về mặt ngữ nghĩa Mẫu chính là Mẹ, Mẫu Thiên tức Mẹ Trời, Mẫu Thượng Ngàn là Mẹ Núi rừng, Mẫu Thoải là Mẹ Nước. Rồi tôn các Mẫu là Thánh đế để từ đó hình thành lên khái niệm Tam tòa Thánh Mẫu.
Theo Nguyễn Đăng Duy, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt (Kinh) hay ở Việt Nam khởi đầu gắn với chế độ xã hội nguyên thủy mẫu hệ và nền kinh tế nông nghiệp lúa nước từ đầu gắn với con người cư trú trên các miền rừng núi. Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguyên từ vùng rừng núi, thờ Mẹ Cây (sau này gọi là Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Sơn Lâm) rồi theo dòng lịch sử đi dần xuống trung du, đồng bằng bổ sung thêm những Mẫu khác.