Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa tâm linh. Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Bắc Ninh. Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Bắc Ninh.
TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN DU LICH VAN HÓA TAM LINH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển du lich văn hóa tâm linh 1. Những nghiên cứu về Du lịch tâm linh Nghiên cứu về Du lịch tâm linh là một đề tài hấp dẫn, chủ đề này đã có nhiều công bố quốc tế và trong nước dé cập tới. Theo tiến trình thời gian, có thé kế đến một số công bồ tiêu biểu: Năm 2006, Hồ Văn Khánh trong công bố: 7mm hỗn — khởi nguồn cuộc sống văn hóa tâm linh đã giới thiệu về sự linh điệu của tâm hồn trong văn hóa tâm linh và tương lai cuộc sống phụ thuộc vào sự linh diệu của tâm hồn, và nhấn mạnh về xuất phát của tâm linh chính là từ cảm nhận, niềm tin của mỗi con người [26] Năm 2009, Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong Văn hóa tâm linh nhân mạnh việc văn hóa tâm linh gắn bó với con người suốt cả cuộc đời biểu hiện ở nhiều mặt.
Đồng thời tác giả cũng cho rằng các loại hình tôn giáo, tín ngưỡng gắn với đời sống tâm linh của người Việt và giải đáp các nội dung thực chất của tín ngưỡng và tôn giáo. Ở Việt Nam có tôn giáo bản địa, thờ tự cầu cúng diễn ra trong dân, nên phân thành những hình thái cụ thé. Tác giả Phan Ngọc (2010) đưa ra giải pháp dé bảo vệ văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập kinh tế thị trường. [27] Năm 2011, Tài liệu “Spiritual Tourism: Travel and Religious Practice in Western Society” của Alex Norman nghiên cứu về du lịch tâm linh - loại hình du lịch được đặc trưng bởi sự tìm kiếm lợi ích tinh thần có chủ ý - từ góc độ nghiên cứu tôn giáo đương đại, khám phá hiện tượng hành trình được thực hiện dé chuyên hóa ban thân, lần theo lich sử của các ý tưởng chuyền đổi trong các nền văn hóa du lịch phương Tây, và bao gồm cả các phương thức mà trải nghiệm du lịch đã được truyền đạt.
Du lịch tâm linh cung cấp một cơ hội quan trọng dé bình luận về vai trò của du lịch trong các quan niệm đương đại về tâm linh và thực hành tâm lĩnh trong xã hội phương Tây [22]. 13 Năm 2013, trong công bồ "Spiritual Tourism and Sustainable Development: Exploring the Relationship", các tac gia Pauline J. Sheldon va Girish Prayag đưa ra những công bố về tác động của du lịch tâm linh đối với phat triển bền vững của địa phương và cộng đồng. Trong nghiên cứu này, tác giả đã thực hiện phân tích sâu về tầm quan trọng của du lịch tâm linh trong việc bảo vệ và phát triển bền vững của các điểm đến du lịch.
Nghiên cứu cũng tập trung vào việc đánh giá những lợi ích kinh tế, xã hội va môi trường của du lịch tâm linh, đồng thời xem xét cách thức du lịch tâm linh có thé đóng góp cho phát triển bền vững của cộng đồng địa phương, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp [24]. Nguyễn Trọng Nhân — Cao Mỹ Khánh (2014) khang định DLVHTL không chỉ mang lại giá trị cao về tỉnh thần trong những chuyến đi và định hướng cuộc sống cho khách du lịch, mà còn góp phần mang lại các lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội cho địa phương đó [23]. Cùng năm, trên cơ sở đưa ra công bố về lý luận và các yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh tinh Nam Định, tác giả Nguyễn Thị Thu Duyên (2014) đề xuất các giải pháp phù hợp.[28] Giáo sư Yogesh Hole (2015) nghiên cứu du lịch văn hóa tâm linh ở Ấn Độ, khảo sát về vai trò của du lịch tâm linh và văn hóa trong phát triển bền vững tại các điểm hành hương trên thế giới. Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát tác động của du lịch tâm linh và văn hóa đến môi trường, kinh tế và văn hóa của các điểm hành hương, đồng thời đề xuất các giải pháp dé thúc đây phát triển du lịch tâm linh và văn hóa một cách bền vững.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy răng du lịch tâm linh và văn hóa có thé đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường phát triển bền vững tại các điểm hành hương. Các điểm hành hương có thể trở thành điểm đến du lịch phổ biến, thu hút khách du lịch và tạo ra lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, du lịch tâm linh và văn hóa cần được thực hiện một cách cần thận dé dam bao rang các hoạt động du lịch không gây ra tac động tiêu cực đến môi trường và văn hóa địa phương. Komang Deya Pradnyana, I Made S và I Putu S (2016) cho thấy rằng du lịch tâm linh có mục đích bảo tôn hoặc sự hiéu biết và di sâu vào bản thân và hiéu được 14 tâm linh đó, các nhà nghiên cứu muốn bộc lộ giá trị tâm linh có thể tìm thấy ở nhiều nơi du lịch nên người viết không chỉ tập trung vào một đối tượng [33].
Arthur Jackson (2017) với tạp chi “Spiritual Journey to Hajj: Australian and Pakistani Experience and Expectations” đã khám pha và xem xét hiện tượng thú vi và quan trọng của Hajj từ một chiến lược tiếp thị và quan điểm dân tộc học. Đã có rất ít nghiên cứu định tính học thuật từ góc độ chiến lược tiếp thị về Hajj (người Hồi giáo hành hương đến Mecca mỗi năm một lần), xem xét nhận thức của người Hồi giáo về hành trình tâm linh quan trọng này. Bài báo đã cố gắng đóng góp vào lý thuyết về du lịch tâm linh và các chuyến đi cũng như việc tiếp thị du lịch tâm linh, bằng cách tập trung vào Hajj vừa là một hành trình tâm linh nỗi bật vừa là một sản phâm/ dịch vụ [21]. Dinitri (2018) trong bài viết của mình có tựa đề Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh ở Làng văn hóa Sindangbarang, Bogor, đã cho rằng dựa trên kết quả nghiên cứu, người ta thấy rang yếu tố du lich tâm linh dưới dạng các điểm tham quan, địa điểm và động cơ của khách du lich có thé là một thế mạnh dé Lang văn hóa Sindangbarang phát triển du lịch.
Trái ngược với nghiên cứu trước đây tập trung vào các đối tượng ở Sindangbarang mà sự co lại mang lại, nghiên cứu này cũng muốn tiết lộ các giá trị tinh thần bộc lộ từ bên trong du lịch [31]. Cùng năm 2018, Nghiên cứu của Biroli, Kartono, & Demartoto đã công bố tính hợp lý của Du lịch Hành hương, tập trung nhiều hơn vào một địa điểm ở Muntilan, và khác với nghiên cứu này đo lường các giá trị tinh thần của chuyến du lịch từ mọi khía cạnh và mọi địa điểm [32]. Như vậy, trên thé giới và trong nước đã có những công trình nghiên cứu về du lịch, văn hóa tâm linh, những công bố chủ yếu về: Quan điểm luận về du lịch tâm linh, từ các góc độ và chuyên ngành khác nhau. mặc dù chưa trực tiếp liên quan đến đề tài, nhưng tác giả cũng đã tham khảo được các thông tin, góp phần hoàn thiện hơn về cơ sở lý luận cho những phần sau cho cơ sở lý luận trực tiếp liên quan đên đê tài.
Những nghiên cứu về phát triển du lịch tâm linh tại tỉnh Bắc Ninh Năm 2010, tác giả Nguyễn Đăng Túc, Lê Đắc Thuật, Trần Đình Luyện đã đưa ra tiềm năng và các loại hình du lịch văn hóa tại các di tích, nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu du lịch tâm linh tỉnh Bắc Ninh [30]. Từ việc hệ thống hóa các di tích lịch sử văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng tại tỉnh Bắc Ninh, tác giả Lê Viết Nga (2013) đã đưa ra ảnh hưởng của các di tích này đối với đời sống tâm linh người dân và mối quan hệ giữa các di tích với sự phát triển của du lịch toàn tỉnh nói chung [29], từ đó đưa ra các giải pháp phát triển đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân. Tóm lại, nghiên cứu về DLVHTL tỉnh Bắc Ninh đã có một số công trình nghiên cứu liên quan. Tuy nhiên, công bố chính thức dưới dạng luận văn thạc sĩ Du lịch, đến nay vẫn chưa có công trình nào.
Những công trình đi trước tạo tiền đề cho tác giả luận văn học hỏi và vận dụng, kế thừa cho đề tải nghiên cứu về “Phát triển Du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Bắc Ninh” này. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch văn hóa tâm linh 1. Khái niệm văn hóa của Taylor đã được tham khảo và trích dẫn trích dẫn nhiều nhất do nắm bắt ý niệm văn hóa như một quá trình tự túc và tự quy định, liệt kê, miêu tả các thành tố của văn hóa, đồng thời đã trình bày được nội dung văn hóa ngắn gọn. Theo UNESCO (1982): Văn hóa được coi là tổng thể những giá trị riêng biệt về tinh thần và vật chất như nghệ thuật, lối sống, tập tục và tín ngưỡng, trí tuệ và cảm xúc mà ở đó con người tự ý thức, thể hiện bản thân, tìm tòi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình vượt trội lên bản thân.
Bởi đó hình thành nên nhận thức của con người về thê giới, họ nhìn nhận ra những điêu khiên bản thân 16 xem xét, những cảm xúc mới. Kết hợp với nhu cầu của bản thân, văn hóa đó có thê quyết định đến tinh cách của con người, chang hạn như người nhu mì thường có những nhu cầu văn hóa riêng, tìm đến nơi khiến bản thân họ bình an, mà gọi đó là chốn linh thiêng. Theo Trần Ngọc Thêm (1999): Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người và tự nhiên, xã hội của mình [6]. Văn hóa này lại nuôi chúng ta lớn, dạy chúng ta khôn, tồn tại ở bất cứ nơi nào chúng ta sống.
Văn hóa hình thành trong nhận thức mỗi người và khiến con người tự thích nghi. Nhu vậy, theo Trần Ngọc Thêm thì văn hóa được xét theo khuynh hướng quá trình, mối quan hệ giữa con người với sáng tạo và thích nghỉ Với môi trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa là một phần không thể tách rời của sự phát triển và sự tồn tại của dân tộc, và ông luôn đặt sự phát triển của văn hóa dân tộc vào vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước.