mở đầu có thể mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Phần lễ cũng có thể là nghi thức tế lễ nhằm tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Phần hội: Là phần có tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn,… mang bản sắc văn hoá dân gian. Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hoá truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó thường không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hoá mới.
Tuy nhiên những nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị cao và có sức hấp dẫn du khách. *Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có những địa bàn cư trú nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch. SVTH: Huỳnh Tấn Chánh Trang: 16 Luan van GVHD: ThS.
Ngô Thị Hường Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc, trang phục dân tộc, âm nhạc,… *Làng nghề truyền thống Theo phần I, Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quy định: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Như vậy, hai yếu tố cơ bản cấu thành làng nghề truyền thống (LNTT) là làng và nghề, trong đó nghề trong làng đã tách khỏi sản xuất nông nghiệp thành ngành kinh doanh độc lập.
Các sản phẩm của LNTT là sự kết tinh, giao thoa và phát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của mỗi dân tộc. Các LNTT đã trở thành đối tượng của hoạt động du lịch, bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong đó cả nội dung giá trị vật thể (hàng lưu niệm) và phi vật thể (kỹ năng làm nghề, cảm nhận văn hóa, nghệ thuật). Những sản phẩm này luôn mang cả dấu ấn về tâm hồn và bản sắc dân tộc, lẫn dấu ấn về mỗi làng quê và hình ảnh đất nước. *Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, bảo tàng, công trình văn hóa đặc sắc… đều có sức hấp dẫn lớn du khách tới tham quan và nghiên cứu.
Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch. SVTH: Huỳnh Tấn Chánh Trang: 17 Luan van GVHD: ThS. Ngô Thị Hường Thông thường những đối tượng văn hoá tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn. Vì vậy những thành phố lớn trở thành những trung tâm du lịch văn hoá của các quốc gia, vùng và khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch.
Cùng với việc phân chia tài nguyên du lịch nhân văn thành 5 nhóm theo loại hình như trên, tài nguyên du lịch nhân văn còn được các tổ chức quốc tế và cơ quan chức năng công nhận danh hiệu tương xứng với cấp giá trị, cụ thể như sau: Cấp thế giới: những tài nguyên được Hội đồng di sản thế giới của UNESSCO công nhận danh hiệu di sản thế giới (di sản văn hóa và di sản hỗn hợp) và những tài nguyên nhận được các danh hiệu của UNESSCO (di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, di sản tư liệu thế giới,…) Các danh hiệu trong nước: những tài nguyên được cơ quan chức năng có thẩm quyền công nhận danh hiệu, bao gồm: cấp quốc gia đặc biệt (do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng), cấp quốc gia (do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng), cấp thành phố (do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp thành phố quyết định xếp hạng) Trong quá trình đánh giá, các tài nguyên du lịch nhân văn được xem xét đồng thời vừa theo loại hình vừa theo cấp xếp hạng.3 Tiêu chí đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn 1.1 Tiêu chí đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên thế giới và Việt Nam Trung tâm thực nghiệm phát triển kinh tế và cộng đồng, Trường Đại học Illinois, Hoa Kỳ đã đề xuất “Công cụ đánh giá và phát triển tài nguyên du lịch” trong đó việc đánh giá tài nguyên du lịch, gồm cả tự nhiên và nhân văn dựa trên 4 tiêu chí: Tính khác biệt, chất lượng tổng thể của tài nguyên, sức hấp dẫn của điểm tài nguyên và động lực cho du lịch của điểm tài nguyên với các thang điểm 4 hoặc 5 cấp. Tính khác biệt của điểm tài nguyên so với các tài nguyên tương tự khác trong khu vực dựa vào cấp giá trị của tài nguyên và khả năng thu hút khách. Chất lượng tổng thể của điểm tài nguyên đánh giá dựa vào cấu tạo vật lý (hình dáng bên ngoài), quá trình hoạt động, sự hài lòng của khách hàng và các thuộc tính khác của tài nguyên. Sức hấp dẫn được đo bằng khả năng thu hút lượng khách đến tham quan theo phạm vi địa lý của thị trường khách (khách quốc tế, khách trong nước, khách trong khu vực hay khách địa SVTH: Huỳnh Tấn Chánh Trang: 18 Luan van GVHD: ThS.
Ngô Thị Hường phương). Động lực cho du lịch được xác định bởi việc lựa chọn một trong sáu lý do nổi bật nhất của điểm tài nguyên mà thu hút du khách đến tham quan. Tác giả Liu Xiao của Trung Quốc đã sử dụng mô hình QEPP nghiên cứu tài nguyên du lịch của Bắc Kinh. Mô hình QEPP là tên gọi viết tắt của bốn từ: Chất lượng, Môi trường, Vị trí và Giá trị cộng đồng (Q: Quality, E: Environment, P: Position và P: Public Praise).
Các tiêu chí được lựa chọn để đưa vào đánh giá tài nguyên du lịch theo mô hình QEPP bao gồm: Cấp tài nguyên; mức độ phong phú của cảnh quan; diện tích khu vực; quy mô dân số đô thị trung tâm; khoảng cách đến trung tâm thành phố; mức độ tập trung tài nguyên; vị trí và giá trị cộng đồng. Trong mỗi tiêu chí cũng tiến hành phân bậc để đánh giá, tương ứng mỗi bậc sẽ có một loại điểm. Giá trị của tài nguyên được tính bằng tổng số điểm của tất cả các tiêu chí đưa vào đánh giá. Tại Việt Nam, nhiều đề tài tiến hành đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch nói chung, trong đó có xây dựng chỉ tiêu đánh giá riêng cho TNDLNV cho một số tiêu chí nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc định hướng tổ chức không gian du lịch.
Với đề tài ”Đánh giá tài nguyên du lịch thành phố Thanh Hóa”, tác giả Trần Đức Thanh [69, tr69-71] đã chia các tài nguyên du lịch gồm cả tự nhiên và nhân văn theo đơn vị hành chính cấp huyện để dễ dàng thống kê và so sánh. Đầu tiên, tác giả đánh giá từng tài nguyên du lịch theo 3 tiêu chí: Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch, diện tích tài nguyên phục vụ cho hoạt động du lịch và khả năng khai thác du lịch. Điểm đánh giá của một tài nguyên là tổng điểm của 3 tiêu chí đánh giá nhân với hệ số. Điểm hệ số của một tài nguyên du lịch là sự biểu hiện mức độ quan trọng khác nhau giữa các tài nguyên.
Trên cơ sở đó, điểm tổng hợp cho tài nguyên du lịch của một đơn vị lãnh thổ được tính bằng tổng điểm đánh giá của tất cả tài nguyên của lãnh thổ nhân với điểm mật độ tài nguyên của lãnh thổ. Đề tài “Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận”, Đỗ Quốc Thông đã sử dụng 5 tiêu chí: tính hấp dẫn khách du lịch, CSHT&CSVCKT phục vụ du lịch, tính bền vững, vị trí và tính liên kết và sức chứa. Về sau, tác giả Nguyễn Lan Anh khi nghiên cứu “Phát triển du lịch Thái Nguyên với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” đã lựa chọn hai hệ thống tiêu chí đánh giá riêng cho điểm du lịch và điểm tài nguyên. Tác giả đã lựa chọn 3 tiêu chí đánh giá các điểm tài nguyên vùng phụ cận của Thái Nguyên gồm tính hấp dẫn khách du lịch, vị trí địa lí của điểm tài nguyên (tiêu chí này chia làm hai tiêu chí nhỏ: Vị trí SVTH: Huỳnh Tấn Chánh Trang: 19 Luan van GVHD: ThS.
Ngô Thị Hường điểm tài nguyên so với điểm du lịch điển hình gần nhất đang khai thác và vị trí của điểm tài nguyên so với trung tâm du lịch) và mạng lưới giao thông vận tải của điểm tài nguyên. Trên cơ sở kết quả đánh giá, đề tài đã xây dựng định hướng phát triển không gian du lịch của Thái Nguyên. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu phần lớn đều chọn từ 5 - 7 tiêu chí cơ bản để đánh giá TNDLNV và phân cấp tiêu chí thành phần thành 4 cấp. Các tác giả hầu hết xác định hệ số 3, 2, 1 cho các tiêu chí theo ý kiến của người nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các công trình đã có.
Tuy nhiên, một vài tiêu chí và sự phân cấp chỉ tiêu đánh giá còn có sự khác nhau giữa các tác giả.2 Tiêu chí đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn áp dụng ở thành phố Hội An, Quảng Nam Lựa chọn tiêu chí đánh giá Kế thừa ưu điểm của những nghiên cứu trên và để phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tài nguyên du lịch nhân văn ở thành phố Hội An sẽ được đánh giá theo 7 tiêu chí sau: Bảng 1.