Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vùng Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi của hàng nghìn làng nghề truyền thống gắn liền với dòng chảy lịch sử và văn hóa dân tộc. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam mang dấu ấn đặc trưng của từng địa phương, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo lưu các giá trị kỹ thuật và nghệ thuật dân gian. Theo thống kê của Sở Công thương tỉnh Nam Định, địa phương hiện có 124 làng nghề thủ công, trong đó có 13 làng nghề mộc và chạm khắc gỗ. Làng mộc La Xuyên thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên là một làng cổ thuộc vùng văn hóa Sơn Nam Hạ với lịch sử hơn 1000 năm hình thành và phát triển nghề chạm khắc gỗ.

Hiện nay, bên cạnh hoạt động sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp truyền thống, việc kết hợp phát triển du lịch làng nghề đã mở ra hướng đi mới nhằm đa dạng hóa sinh kế, bảo tồn di sản văn hóa và quảng bá thương hiệu địa phương. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại làng mộc La Xuyên vẫn còn mang tính tự phát, hạ tầng dịch vụ chưa đồng bộ và chưa có quy hoạch bài bản. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản về phát triển du lịch làng nghề.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng khai thác tiềm năng phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên, tỉnh Nam Định.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phát triển du lịch tại làng nghề, tập trung vào thực trạng và các giải pháp tổ chức, khai thác du lịch tại làng mộc La Xuyên (không đi sâu vào kỹ thuật chế tác mộc thuần túy).
  • Phạm vi không gian: Làng mộc La Xuyên, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định và mối liên kết với các điểm du lịch phụ cận trong vùng.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu và thông tin thực tế được thu thập, khảo sát phục vụ khóa luận tốt nghiệp thực hiện trong năm 2021, cùng chuỗi dữ liệu phản ánh tình hình hoạt động của làng nghề trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết về làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề:

  • Khái niệm làng nghề: Phân tích ba quan điểm tiếp cận về làng nghề (nơi cư dân thuần nghề sống bằng nghề; làng cổ truyền làm thủ công kết hợp nông nghiệp; trung tâm sản xuất quy tụ nghệ nhân có phường hội) và định nghĩa của Tổng cục Du lịch (2020) xác định làng nghề du lịch là không gian lãnh thổ nông thôn kết hợp sản xuất thủ công với cung cấp dịch vụ phục vụ khách du lịch.
  • Khái niệm và đặc điểm du lịch làng nghề: Là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách đến tham quan, trải nghiệm, thẩm nhận giá trị văn hóa và mua sắm sản phẩm thủ công đặc trưng. Các đặc điểm cốt lõi gồm: điểm đến gắn liền với sản xuất thủ công truyền thống; sản phẩm mang tính đơn chiếc và giá trị mỹ thuật cao; quy trình sản xuất dựa vào tay nghề và kỹ thuật thủ công; không gian văn hóa nông thôn gắn với nông nghiệp.
  • Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch làng nghề: Không gian cảnh quan, tính hiện hữu của hoạt động sản xuất, giá trị vật thể và phi vật thể của sản phẩm, thương hiệu làng nghề, vị trí địa lý trên tuyến du lịch và hệ thống dịch vụ bổ trợ.
  • Điều kiện tiền đề: Vai trò của người thợ trong vai trò thuyết minh viên, hệ thống bảo tàng/phòng trưng bày, bảo tồn cảnh quan - vệ sinh môi trường và sự tham gia của các hiệp hội nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu, văn bản từ Sở Công thương tỉnh Nam Định, Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, sách báo và các tài liệu chuyên ngành.
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Tổng hợp, phân loại và so sánh các dữ liệu điều tra thực tế từ 28 hộ gia đình làm nghề, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp chế biến gỗ và cơ sở dịch vụ trên địa bàn.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của giảng viên hướng dẫn, nghệ nhân làng nghề và các nhà quản lý cơ sở nhằm xác định và điều chỉnh nội dung nghiên cứu.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các báo cáo thống kê ngành công thương và du lịch tỉnh Nam Định, số liệu điều tra trực tiếp tại làng mộc La Xuyên và dữ liệu phỏng vấn người dân, du khách và nhà quản lý doanh nghiệp địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về du lịch làng nghề

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về làng nghề và du lịch làng nghề. Tác giả chỉ ra vai trò tương hỗ giữa bảo tồn nghề truyền thống và phát triển du lịch. Du lịch làng nghề giúp tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giảm cách biệt thu nhập thành thị - nông thôn và quảng bá văn hóa bản địa.

Tác giả cung cấp số liệu tổng quan: cả nước có hơn 5.000 làng nghề và làng có nghề, gồm 1.748 làng nghề được công nhận và hơn 4.000 làng nghề truyền thống thuộc 53 nhóm nghề với trên 200 loại sản phẩm thủ công. Chương này cũng phân tích các bài học kinh nghiệm từ các mô hình làng nghề tiêu biểu như Làng hoa giấy Thanh Tiên (Thừa Thiên Huế - được công nhận năm 2013), Làng gốm cù lao An Hiệp (Đồng Tháp) và các làng nghề vùng Hà Nội (Bát Tràng, Vạn Phúc, Phú Vinh). Qua đó, tác giả chỉ ra các hạn chế chung của du lịch làng nghề Việt Nam: tính tự phát, thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp, thương hiệu yếu, ô nhiễm môi trường và hạ tầng dịch vụ chưa đạt chuẩn quốc tế.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên – Nam Định

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về tiềm năng, quy mô sản xuất và thực trạng khai thác du lịch tại làng mộc La Xuyên:

  • Lịch sử và không gian văn hóa: Nghề mộc La Xuyên khởi nguồn từ thế kỷ X thời nhà Đinh và Tiền Lê, do ông tổ Ninh Hữu Hưng (936–1020, được phong chức Công Tượng Lục Phủ Giám Sát Tướng Quân, dân làng tôn xưng Lão La Đại Thần) truyền dạy. Quần thể di tích Đình La Xuyên (làm bằng gỗ lim với nghệ thuật chạm bong, chạm lộng) và Phủ Mẫu là minh chứng lịch sử của làng nghề. Làng duy trì lễ hội dân gian từ mùng 9 đến 11 tháng 3 âm lịch (3 năm tổ chức hội lớn một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu) và lễ cúng tổ nghề vào ngày 24 tháng 4 âm lịch.
  • Quy mô và công nghệ sản xuất: La Xuyên có cụm công nghiệp làng nghề quy mô 16 ha với 24 doanh nghiệp và hơn 1.000 cơ sở sản xuất. Toàn làng có khoảng 580 hộ gia đình làm nghề gỗ (200 hộ có cửa hàng trưng bày, 380 hộ sản xuất tại nhà), 40 doanh nghiệp (trong đó khoảng 20 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả) và 20 xưởng xẻ gỗ trang bị máy CD tự động xử lý khoảng 25.000 m³ gỗ/năm. Khảo sát 28 hộ gia đình cho thấy 25 hộ kết hợp nơi ở làm xưởng sản xuất (chỉ 10% có xưởng tách biệt). Về nguồn gốc thiết bị: 83% từ Việt Nam và Trung Quốc, 12,5% từ Đài Loan và Malaysia, 4% máy móc/thiết bị cầm tay từ Nhật Bản; nhiều hộ đã ứng dụng máy CNC.
  • Sản phẩm chính: Được chia thành ba nhóm: Đồ gia dụng (bàn ghế, sập, tủ, giường, cửa), Đồ mỹ nghệ (tranh phong cảnh, tranh tứ quý, tranh khảm trai, giá ngà voi, tượng trang trí, đồ gỗ Nu) và Đồ thờ cúng (cuốn thư, câu đối, ngai thờ, bàn thờ làm bằng gỗ gụ khảm trai đánh véc-ni).
  • Thực trạng hoạt động du lịch: Trong 5 năm gần nhất, làng đón hàng nghìn lượt khách nội địa (chủ yếu theo tour ghép di tích đền Trần, chùa Phổ Minh hoặc liên kết từ Ninh Bình). Khách quốc tế đạt khoảng 200 lượt/năm (chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản đến tham quan, quay phim hoặc tìm nguồn hàng xuất khẩu).
  • Cơ sở hạ tầng và dịch vụ: Địa bàn kết nối với Quốc lộ 10, Quốc lộ 38B, Quốc lộ 37B, cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, tuyến đường Lương - Trị (dài 13,5 km, kinh phí 144,1 tỷ đồng). Hạ tầng nước sạch có 5 nhà máy tập trung (nhà máy Yên Quang công suất 3.700 m³/ngày đêm, nhà máy Thị trấn Lâm 6.000 m³/ngày đêm). Các cơ sở lưu trú và dịch vụ gồm khách sạn Thùy Dương, khách sạn Sao Mai, nhà hàng Hương Quê, cửa hàng quà lưu niệm Nam An, Minh Nga.
  • Nguồn nhân lực và hạn chế: Làng có khoảng 10.000 lao động ngành gỗ (60% người địa phương, lao động hộ gia đình chiếm 42,3%, nữ chiếm 14–20%). Mức thu nhập nam đạt 200.000–300.000 đồng/ngày (thợ bậc cao 500.000–600.000 đồng/ngày), nữ đạt 100.000–200.000 đồng/ngày. Nhân lực phục vụ du lịch còn thiếu kỹ năng, ngoại ngữ và kiến thức nghiệp vụ. Thời gian lưu trú của khách rất ngắn (dưới 1 ngày), ô nhiễm môi trường (bụi gỗ, tiếng ồn, nước thải) chưa được xử lý triệt để.

Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch làng nghề tại làng mộc La Xuyên – Nam Định

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch làng nghề bao gồm:

  • Đa dạng hóa hoạt động du lịch: Thiết lập thương hiệu, logo và bộ tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm làng nghề; xây dựng phòng đón tiếp, không gian trưng bày sản phẩm; tổ chức cho du khách tham gia các công đoạn chế tác gỗ thủ công; phát triển sản phẩm lưu niệm kích thước nhỏ; liên kết xây dựng tour du lịch cộng đồng kết hợp tham quan nhà bổi ven biển và Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
  • Phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: Đầu tư bãi đỗ xe du lịch, hệ thống biển báo chỉ dẫn, khu vệ sinh công cộng đạt chuẩn, tách biệt khu vực sản xuất gây ồn/bụi với không gian dịch vụ ẩm thực và trưng bày.
  • Xúc tiến, quảng bá du lịch: Tuyên truyền qua website ngành du lịch tỉnh, hiệp hội làng nghề; tham gia hội chợ, triển lãm du lịch trong nước và quốc tế; liên kết với các công ty lữ hành xây dựng tour ngắn ngày kết nối di tích Phủ Dầy, Phủ Quảng Cung, Đền Trần, Bái Đính, Tràng An và làng đúc đồng Tống Xá.
  • Đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh, giao tiếp, ngoại ngữ và văn hóa du lịch cho người dân làm nghề và nhân viên bán hàng; phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp chứng chỉ chuyên môn.
  • Bảo vệ môi trường và quy hoạch làng nghề: Xử lý chất thải, bụi cưa và nước thải làng nghề; quy hoạch phân khu sản xuất tập trung, tôn tạo cảnh quan di tích Đình - Phủ La Xuyên; có chính sách vinh danh, chăm lo và hỗ trợ nghệ nhân cao tuổi truyền nghề cho thế hệ trẻ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu thực tế về thực trạng sản xuất, hạ tầng và nguồn nhân lực tại làng mộc La Xuyên:

Tiêu chí Số liệu / Hiện trạng thực tế tại làng mộc La Xuyên
Quy mô mặt bằng & cơ sở sản xuất Cụm công nghiệp 16 ha; 24 doanh nghiệp; >1.000 cơ sở sản xuất; 580 hộ chế biến gỗ (200 hộ có cửa hàng tại làng, 380 hộ tại nhà).
Năng lực cưa xẻ & nguyên liệu 20 hộ có máy xẻ CD tự động; công suất ~25.000 m³ gỗ/năm; nguồn gỗ nhập từ Lào, Campuchia, Indonesia, châu Phi.
Cơ cấu máy móc thiết bị 83% máy Việt Nam & Trung Quốc; 12,5% Đài Loan & Malaysia; 4% Nhật Bản; đang gia tăng ứng dụng máy CNC.
Quy mô lực lượng lao động ~10.000 lao động ngành gỗ; 60% lao động địa phương; lao động hộ gia đình chiếm 42,3%; lao động nữ chiếm 14–20%.
Thu nhập bình quân của thợ Lao động nam: 200.000 – 300.000 đ/ngày (thợ bậc cao 500.000 – 600.000 đ/ngày); Lao động nữ: 100.000 – 200.000 đ/ngày.
Lượng khách du lịch quốc tế Ước đạt ~200 lượt/năm, chủ yếu từ Hồng Kông, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan.
Mặt bằng nhà xưởng sản xuất 25/28 hộ khảo sát (chiếm ~89,3%) sử dụng nơi cư trú làm xưởng sản xuất; chỉ ~10% hộ có xưởng tách biệt.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở các khía cạnh:

  • Làm rõ tính khả thi của việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể (Đình, Phủ La Xuyên) và phi vật thể (lễ hội, tục lấy lửa đêm giao thừa, truyền thuyết tổ nghề Ninh Hữu Hưng) gắn liền với sản phẩm gỗ chạm khắc mỹ nghệ phục vụ du lịch.
  • Phác thảo mô hình liên kết tuyến điểm du lịch giữa làng mộc La Xuyên với các di tích trọng điểm trong tỉnh Nam Định (Đền Trần, Phủ Giầy, Phủ Quảng Cung) và tỉnh Ninh Bình (Cố đô Hoa Lư, Tràng An, Bái Đính).
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn cho chính quyền huyện Ý Yên và xã Yên Ninh trong công tác quy hoạch điểm du lịch làng nghề gắn với xử lý môi trường và đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế còn ở quy mô mẫu nhỏ (phỏng vấn 28 hộ gia đình và một số cơ sở tiêu biểu); chưa thu thập được chuỗi số liệu thống kê định lượng liên tục qua các năm về doanh thu du lịch tách biệt khỏi doanh thu bán sản phẩm gỗ thương mại; nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở mức mô tả định tính và đề xuất định hướng chính sách.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng điều tra định lượng mức độ hài lòng và hành vi chi tiêu của du khách; xây dựng mô hình đánh giá sức chứa du lịch và tác động môi trường tại làng nghề; nghiên cứu giải pháp chuyển đổi số trong xúc tiến và thương mại điện tử cho sản phẩm lưu niệm làng mộc La Xuyên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản trị Văn hóa, Kinh tế phát triển nông thôn khi thực hiện đề tài về du lịch làng nghề truyền thống. Các nội dung khảo sát chi tiết về cơ cấu sản xuất, phân loại sản phẩm mộc (gia dụng, mỹ nghệ, thờ cúng), lược sử ông tổ nghề Ninh Hữu Hưng và thực trạng hạ tầng giao thông tại huyện Ý Yên mang giá trị tư liệu thực địa rõ nét cho các nhà nghiên cứu du lịch văn hóa vùng Đồng bằng sông Hồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Ông tổ nghề mộc La Xuyên là ai và được tôn vinh như thế nào trong đời sống tín ngưỡng của làng?
Ông tổ nghề mộc La Xuyên là Ninh Hữu Hưng (936–1020), quê gốc tại huyện Gia Viễn (Ninh Bình), từng được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Công Tượng Lục Phủ Giám Sát Tướng Quân và tiếp tục được vua Lê Đại Hành trọng dụng xây dựng cung thất. Khi cùng vua Lê đến vùng Cái Nành (La Xuyên ngày nay), ông đã ở lại lập ấp, dạy dân trồng trọt và truyền nghề mộc, chạm khắc. Dân làng lập đình thờ ông, tôn vinh là Lão La Đại Thần và tổ chức lễ cúng vào ngày 24 tháng 4 âm lịch hàng năm.

2. Cơ cấu sản phẩm của làng mộc La Xuyên gồm những nhóm chính nào?
Sản phẩm làng nghề được phân thành ba nhóm:

  • Đồ gia dụng: Bàn ghế, sập, tủ, cửa, lan can cầu thang, giường, bể cá cảnh, đồng hồ, khung gương.
  • Đồ mỹ nghệ: Tranh rẻ quạt, tranh tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), tranh khảm trai, tượng chim thú, tượng trang trí và các sản phẩm độc đáo từ gỗ Nu.
  • Đồ thờ cúng: Bàn thờ, câu đối, cuốn thư, ngai thờ làm bằng gỗ gụ đánh véc-ni, khảm trai chữ Hán (khác biệt với đồ thờ gỗ mít sơn son thếp vàng của các làng lân cận).

3. Khách du lịch quốc tế đến làng mộc La Xuyên có đặc điểm và mục đích gì?
Theo ghi nhận từ các cơ sở sản xuất tại làng, khách quốc tế đạt khoảng 200 lượt/năm, thường đi theo nhóm nhỏ 4–5 người có hướng dẫn viên, kết hợp từ các tour Bái Đính - Tràng An hoặc Cố đô Hoa Lư sang. Khách đến chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản với mục đích tham quan, ghi hình quy trình sản xuất và tìm kiếm nguồn hàng nhập khẩu đồ gỗ mỹ nghệ.

4. Những tuyến giao thông huyết mạch nào kết nối thuận tiện cho du khách đến làng mộc La Xuyên?
Làng mộc La Xuyên nằm sát Quốc lộ 10, kết nối trực tiếp với Quốc lộ 38B, Quốc lộ 37B và đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (dài 16,4 km, 4 làn xe). Ngoài ra, hệ thống giao thông địa phương có tuyến đường Lương - Trị dài 13,5 km (đạt chuẩn cấp IV đồng bằng, kinh phí 144,1 tỷ đồng), tỉnh lộ 485 và các tuyến đường liên xã kết nối đồng bộ từ cầu Tào vào trung tâm làng nghề.

5. Thực trạng mặt bằng sản xuất và mức độ ô nhiễm tại làng nghề La Xuyên hiện nay ra sao?
Khoảng 89,3% hộ gia đình (25/28 hộ phỏng vấn) tận dụng chính nơi ở để làm xưởng sản xuất và chế biến, chỉ có 10% hộ có xưởng tách biệt. Tình trạng sản xuất đan xen khu dân cư cùng với bụi gỗ, mạt cưa, tiếng ồn máy xẻ và nước thải xử lý chưa triệt để đang là vấn đề môi trường cấp bách, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan du lịch của làng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cù Phương Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch làng nghề và cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng sản xuất, tiềm năng văn hóa cùng hoạt động du lịch tại làng mộc La Xuyên, tỉnh Nam Định. Công trình chỉ rõ những điểm nghẽn về hạ tầng, dịch vụ lưu trú, nhân lực và ô nhiễm môi trường đang cản trở sự phát triển du lịch tại địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ đa dạng hóa sản phẩm, quy hoạch phân khu, đào tạo kỹ năng du lịch cho người dân đến tăng cường liên kết tour tuyến liên tỉnh, tạo cơ sở tham khảo cho công tác quản lý và định hướng phát triển du lịch làng nghề bền vững.