mở đầu một vương triều thịnh vượng lâu dài [50, tr. 72], mở ra thời kì phục hưng toàn diện của đất nước. Nhà Lý thiết lập và lựa chọn thiết chế chính trị với đặc trưng riêng biệt, được các sử gia gọi là mô hình tập quyền thân dân, với thể chế quân chủ tập quyền mang nhiều điểm khác và vượt xa thời kì các triều Ngô, Dinh, Tiền Lê. Cấp hành chính trung ương bao gồm ba bộ phận chủ yếu, đó là: Các cơ quan giúp việc cho hoàng đế: sảnh, hàn lâm viện; Các cơ quan đầu não của triều đình: khu mật viện, bộ; Các cơ quan giúp việc cho triều đình: viện, ti, cuộc [50, tr.
Các chức tướng công, thái phó được hoàng dé nha Lý ban cho những người có nhiệm vụ trực tiếp điều khiển toàn bộ chính quyền. Phụ tá cho các thái phó là tả tham tri chính sự, hữu tham tri chính sự, và hành khiển. Phụ tá cho thái phó còn có các cơ quan là khu mật viện và bộ. Địa giới phía bắc nước Đại Việt, thời Lý là Bắc Bộ Việt Nam hiện nay và bao gồm cả một phần nhỏ của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).
Địa giới phía nam khi nhà Lý mới thành lập chỉ tới khu vực Hà Tĩnh hiện nay. Năm 1069,Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Củ dâng ba châu tương đương với tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị hiện nay. Cương vực này được nhà Trần tiếp tục duy trì ôn định. Trên vùng lãnh thổ này, nhà Ly chia cả nước thành 24 đơn vị hành chính.
Sự phân cấp hành chính ở địa phương lần lượt từ cao xuống thấp lúc đó là: Phu, lộ, châu, trại; Huyện, hương, giáp, phường, sách, động. Đứng đầu bộ máy hành chính của các phủ, lộ là tri phủ, phán phủ, của các châu là tri châu, của các trại, đạo là quan mục. Đứng đầu bộ máy của các huyện là huyện lệnh. Dưới huyện là đơn vi giáp va thôn.
Nhà Lý được xác định là nhà nước đầu tiên ở Việt Nam chính thức có hệ thống pháp luật từ khi 16 giành độc lập sau thời Bắc thuộc mà thời nhà Ngô, nhà Đinh và nhà Tiền Lê trước đó chưa có. Cơ quan chuyên trách pháp luật của nhà Lý là Bộ Hình và Tham hình viện. Dam nhận chức vu này thường là á tướng kiêm nhiệm. Trong một số trường hợp, vua đích thân xử án như vụ kiện [3, tr.
Nhà Trần đã tiếp thu được nhiều thuận lợi về tổ chức chính trị từ thành quả xây dựng mô hình nhà nước của nhà Lý. Năm 1042, Lý Thái Tông ban hành bộ Hinh thw, đây là bộ luật đầu tiên của một triều đại Việt Nam, có thể coi như tổng hợp của luật dân sự, luật hình sự, luật tố tụng hình sự. Bộ Hình thư gồm ba quyền, đã bị thất truyền sau thời kì phá hủy văn hóa Đại Việt của nhà Minh vào đầu thế kỉ XV. Việc ra đời của Hình thư cũng như các cơ quan Bộ hình và Thâm hình được xem là bước tiễn trong việc tô chức quản lí của nhà nước thời Lý, tuy hiệu lực vẫn còn hạn chế.
Do sự sùng bái Phật giáo của triều đại này mà các hình phạt nói chung không quá nghiêm khắc. Pháp luật bảo vệ nguồn thu nhập của triều đình, đảm bảo dân đinh là sức lao động chủ yếu mà triều đình sử dung. Dé đảm bảo sản xuất nông nghiệp, việc giết trâu bò được quy định chặt chẽ. Người giết trâu, bò bừa bãi không theo quy định bị xử tội nặng [59, tr.
Sau thời kì hưng thịnh, từ khoảng giữa thé ki XII trở đi, triều đình nhà Lý bước vào giai đoạn suy tàn. Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Thiên tai, mất mùa, đói kém, dịch bệnh hoành hành khắp nơi làm cho nền kinh tế ngay càng sa sút. Bên cạnh đó, do bộ máy chính quyền nha Lý từ trung ương đến địa phương tỏ ra quan liêu, lỏng lẻo trong việc quản lí xã hội dẫn đến tình trạng ở nhiều địa phương, các thế lực địa chủ phong kiến đã tập hợp lực lượng nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trang cát cứ phân quyền.
Nỗi bật trong số các thé lực cát cứ thời bấy giờ là tập đoàn quân sự của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình). Do có công giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật tự, gia tộc họ Trần được triều đình trọng dụng nên đã từng bước thao túng quyền bính và dần thâu tóm quyên lực chính 17 trị trong tay. Tập đoàn quý tộc họ Trần rất khôn khéo, dần dần từng bước vững chắc và cuối cùng chuyên chính quyền từ dong họ Lý sang dong họ Tran một cách êm thấm trong hoàng cung mà hau như không có tác động gì làm xáo trộn xã hội [90, tr. Năm 1225 Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh vừa mới bảy tuổi, rồi lên làm Thái Thượng hoàng và sau đó xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo, lay hiệu là Huệ Quang dai su.
Theo sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng đã kết hôn với Trần Cảnh. “Mùa đông, tháng 12, ngày 12 năm Ất Dậu (1225) nhận thiền vị của Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung” [90, tr. Có thé nói sự chuyên giao quyền lực từ nhà Ly sang nha Tran diễn ra một cách yên bình, tạo điều kiện tốt nhất cho việc thiết lập quyền lực nhà Trần vững chãi ngay từ những năm đầu. Nhà Trần trải qua các triều vua đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm phát triển các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, thúc đây xã hội tiến lên một bước đáng kể.
Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông đã thực hiện thắng lợi ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược (cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285, cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288) nâng cao vi tri nhà Trần trong lịch sử và vị thế của Việt Nam trong khu vực lúc đó [90, tr. Đây là bối cảnh hội tụ đủ điều kiện thuận lợi để các vua nhà Trần có thể thực hiện xây dựng một tôn giáo Việt Nam thống nhất trong đối sánh với các nước trong khu vực và đặc biệt là khăng định sự độc lập tư tưởng, văn hóa đối với Trung Quốc - một nước lớn thường đe dọa xâm lược lãnh thé va khống chế về chính trị, văn hóa. Điều kiện tôn giáo, văn hóa trước khi hình thành thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Khi tiếp thu các tôn giáo ngoại lai, Việt Nam chưa có tôn giáo riêng (theo nghĩa đầy đủ giáo đoàn, giáo luật, giáo li và các nghi thức thờ cúng.) nên sự tiếp thu tôn giáo ngoại lai khá cởi mở, hầu như không có xung đột tôn 18 giáo. Tuy nhiên tôn giáo dân tộc lại trở thành vấn đề khi dân tộc Việt Nam cần khang định tư cách độc lập về văn hóa và tư tưởng.
Sự ra đời Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử thời Trần là một nhu cầu tất yếu và trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch sử tư tưởng, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Phật giáo truyền vào Việt Nam bằng hai con đường: đường biển từ An Độ và đường bộ từ Trung Quốc. Đường biên, xuất phat từ các hải cảng vùng Nam An, rồi qua Srilanca, Inđônêsia. các thương thuyền An Độ thường tới vùng Đông Nam Á để buôn bán.
Trong các chuyến đi này, các thương nhân thường cung thỉnh các vị sư tăng đi theo để cầu nguyện cho họ, Phật giáo theo đó được truyền bá vào Việt Nam vào những năm đầu Công nguyên. Nhân sinh quan Phật giáo cũng rất phù hợp với người Việt vốn ưa chuộng hòa bình, ghét xung đột, sống hòa hợp, giàu lòng nhân ái, nên dan dan triết lí này đã được hòa nhập với tín ngưỡng bản địa của người dân Việt. Phật giáo là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng nhiều nhất, ngoài ra Nho giáo và Đạo giáo cũng có tác động đến đời sống chính trị xã hội Việt Nam trước khi hình thành Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử. Thời Lý đã có tư tưởng tam giáo đông nguyên, sử dụng cả ba tôn giáo (Phật, Nho và Lão).
Các vua Lý chú trọng xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tô tượng, cử sứ sang Trung Quốc xin nhà Tống kinh Phật, biến các chùa thành nơi cầu đảo, làm lễ tạ ơn khi chiến thắng quân xâm lược, lễ đại xá. Các quý tộc và nhân dân cũng đóng góp xây dựng nhiều chùa ở các địa phương. Việc chú trọng xây dựng chùa thời Lý được sử gia Lê Văn Hưu thời Trần ghi nhận là "xây tường cao ngất, tạc cột chùa bang đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cả cung điện của vua” [60, tr. Các chùa lớn và nổi tiếng có từ trước thời Trần khá nhiều như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm (Bắc Ninh), chùa Long Doi (Ha Nam), chùa Diên Hutu, chùa Tran Quéc.
Bắt đầu từ thời Dinh - Lê cũng như thời Lý, nhiều nhà sư đã tham gia vào việc triêu chính, tuy họ chỉ đóng vai trò cô vân tư tưởng, người giáo hóa 19 như người thầy tâm linh và người thầy văn hóa. Trong xã hội lúc đó, với vai trò hướng dẫn tâm linh, tín ngưỡng và kinh nghiệm sống, đạo đức mẫu mực, các vị cao tăng rất được kính trọng. Họ được vua, hoàng tộc và các quan văn võ coi như bậc thầy. Nhưng từ thời Lý Thần Tông, các vua thường qua đời sớm, vua lên thay còn nhỏ, thai hậu buông rem chấp chính, nên Phật giáo có lúc bị phê là “mối di đoan”, làm nhân tâm rối loạn, nhà chức trách bỏ phí thời gian vào việc hão huyền, việc thưởng phạt trong triều đình căn cứ vào những điều không chính đáng [28, tr.
Nho giáo thời Lý tuy đã có vị trí trong giáo dục và văn hóa nhưng chưa có điều kiện phát triển mạnh mẽ như các triều đại sau [60, tr. Đạo giáo cũng có ảnh hưởng nhất định, thể hiện trong chế độ thi cử, yêu cầu các thí sinh hiểu biết cả ba tôn giáo Phật, Đạo và Nho mới có thé đỗ. Việc thi cử tam giáo phản anh tam giáo đồng nguyên vào thời Lý; trong đó Nho giáo là hệ tư tưởng dùng để quản lí xã hội, Phật giáo được coi như là Quốc giáo, còn Đạo giáo có ảnh hưởng nhất định trong các tang lớp dân cư [87, tr. Ngay trong thế kỉ đầu tiên của thời Lý đã để lại trong di sản tỉnh thần của dân tộc Việt Nam ba áng thơ văn gây ấn tượng về khí phách phi thường: Chiếu dời đô (214 chữ), Phat Tong lộ bố văn (148 chữ) và bài thơ Nam quốc sơn hà (28 chữ).