Chương 1 TONG QUAN VE VĂN BAN TU THU TIẾT YEU VÀ LUẬN NGU TIET YEU Chương này, chúng tôi trình bày bốn van dé cơ bản xung quanh văn ban LNTY. Dau tiên là giới thuyết về tác giả, tác phẩm hệ thống sách Tiét yếu. Nhiệm vụ trọng tâm là tập hợp, mô tả văn bản TTTY hiện ton trong các kho lưu trữ, từ đó phân chia thành các hệ bản và khái quát quá trình truyền bản của TTTY nói chung và LNTY nói riêng. Qua đó, xác định bản cơ sở phục vụ nghiên cứu.
Bên cạnh những van đề liên quan đến văn bản, muốn nhận định rõ về giá trị của tác phẩm thì không thé đặt nó tách biệt với các hệ thống thư tịch kinh điền Nho gia khác, thế nên cuối chương là một số van đề về Tứ thir đại toàn ở Trung Quốc va su tiép nhan chúng ở Việt Nam mà LNTY được cho là một hình thức biến đổi từ TTDT. Giới thuyết về hệ sách Tiét yếu gắn với “Bùi thị nguyên ban” Từ “Tiết yếu”, chúng tôi sử dụng ở đây, nhằm chỉ hệ thống thư tịch gắn liền với “Bùi thị nguyên bản”, bao gồm 04 bộ: Tir thir tiết yeu VUE ENE, Ngũ kinh tiết yếu TAX EE, Tính lý tiết yếu †EEEffi3⁄*, Thiếu Vi tiết yếu “> Gk IBZ. Day là hệ thống thư tịch kinh điển và sử tịch Nho gia phục vụ trực tiếp cho khoa cử, phổ biến ở triều Nguyễn. Giải độc 03 bài Tựa ở bộ TTTY và Ngũ kinh tiết yếu, chúng ta sẽ hiểu thêm về hệ thống thư tịch này: Bài Tựa Tứ thr đại toàn tiết yếu PUNK: “Tiết ff nghĩa là giản ước, yếu ## cũng có nghĩa là giản ước.
Vì sao cần phải giản ước? Dé tiện cho khoa cử mà thôi. Cái học khoa cử với cái học nghĩa lý không giống nhau, cái học nghĩa lý at từ uyên bác mà ước lược lại, còn cái học khoa cử chỉ chủ ở giản ước. Bởi vậy, lay toàn bộ kinh truyện mà tiết lược đi. Trong [những bản tiết lược đó] chỉ có bản của Bùi thị tốt hơn ban của các nhà khác.
Trước đã khắc xong Ngã kinh, nay tiếp tục đến Tir the. Những đoạn huấn hỗ, giải thích bên trong đều giống như bản gốc, mà đều đặt đầu dé là “tiết yếu” vậy. la-2b] LÑï, Ath; BEA. KES PA Ae], FEE #8 H l#ifi ZA, BRC #RIl3:]A4J.
MMA Z ATmB o WEP SE CALABAR. HRCI AAT EZ, STRAWS. Bài Tựa TITY xác định được niên đại vào năm Thiệu Trị 2 (1842) ở bản B1, xem chỉ tiết ở mục 1. 10 Bài Tựa Ngũ kinh tiết yếu diễn nghĩa †L#*ffi25†Ä 3$J#' (Minh Mệnh 8 -1834): “Khoa cử được đặt ra từ trước.
Đã có khoa cử thì sẽ có văn chương khoa cử. Đã có văn chương khoa cử, at sẽ có cái học khoa cử. Tiét yếu là cái học của khoa cử vậy. Thế nhưng, văn chương truyền tải đạo lý trong Negi kinh, Luận ngữ, Mạnh Tử đều là chỗ quan trọng, vì sao lại tiết lược? Các nhà đều có bản riêng, mà tìm chỗ huấn hỗ, giải thích chính xác, rõ ràng, dẫn dụ bao quát, phổ bác, thì bản của Bùi thị thực đáng lựa chọn.
Trước đã san xong Tứ thu, nay lại lay Ngũ kinh mà san khắc, để chúng cùng lưu hành trong thế gian, gọi “tiết yếu” đó là tên vậy. Còn cái học nghĩa lý, sách này nào dám? ”” [53T, tr. Ia-2b] Bài Tựa Ngữ kinh tiết yeu TL#Šfff##? (Minh Mệnh 11 -1837): “Tiết yếu là bản nguyên gốc của thầy họ Bùi. Văn chương tải đạo của Ngữ kinh, đều là chỗ thiết yếu.
Cái học khoa cử chuyên chú vào việc lý hội, chữ nghĩa dần dần được tiết lược mà giản ước đi, dé cho dé nhớ mà chuẩn bi đầy đủ [kiến thức] dé đi thi. Các bậc tiền bối đều có bản riêng, thế nhưng trong những bản đó, huấn hỗ giải thích rõ ràng, dẫn dụng uyên bác thì chưa có bản nào bằng bản này. Bởi vậy mới đem khắc ván, đặt tên là “tiết yêu”, cũng nó là chỗ thiết yếu của cái học khoa ctr. 1a-2b] Tiết yếu được định nghĩa thứ nhất là hệ thống thư tịch chuyên phục vụ cho khoa cử “fii, PEE YH Tiết yến gid, khoa cứ chỉ học đã.”; thứ hai nguồn gốc gắn với “Bui thị” (thay họ Bùi) “MIA, 3šIKiRtE Tiết yếu giả, Bui thị nguyên ban đẩ”.
Về phương diện thứ nhất, quả thực hệ thống sách Tiết yếu gan chặt với khoa cử, văn chương khoa cử và cái học khoa cử, đặc biệt ở thời kỳ nhà Nguyễn. Từ góc độ lịch sử, những điền tịch quan phương ghi chép về khoa cử đã miêu tả quá trình tiệm tiến tái thiết chế độ khoa cử từ triều Gia Long với các khoa thi Hương được tô CREE Zit, FORMA. BE, BERS th. ®/&1itiRmijtlf2 CEH, ADA? AS AAA, 1 28 Feth, ?X5|ñXI†, Rl RRA ES HBCU, UAT2, ft? TH, H'ấH”, Path.
ARE He, AI NÓI. BURA, SCPE ATTA, Dac Dur Rau > HRA ee SHA, BP wR, SA, ARAMA. AS, BAD) Bi i TS ER 11 chức sáu năm một lần (tức các khoa thi 1807, 1813, 1819), đến triều Minh Mệnh với kỳ thi Hội, thi Dinh đầu tiên đưới triều Nguyễn (1822). Quan trọng hon, từ thời điểm đó, điển chế ba năm một kỳ Đại khoa tiếp tục duy trì cho đến khi khoa cử chấm dứt ở Việt Nam (1919).
Tính từ văn bản Tiét yếu xuất hiện sớm nhất được tìm thấy là Tw thư tiết yếu (VHv.3475) in năm Canh Thìn niên hiệu Minh Mệnh 1 (1820), đến văn bản muộn nhất là Thiéu Vi tiết yếu (AC.6/1-12) Liễu Văn đường in vào niên hiệu Thành Thái 13 (1901), có thé nói hệ thống thư tịch này liên tục được khắc in, đồng hành cùng sự 6n định, phát triển, cải lương và chấm dứt khoa cử ở Việt Nam. Bên cạnh đó, phải nhắc đến hai nhận xét quan trọng về hệ thống sách Tiết yếu: Thứ nhất là nhận xét của Nguyễn Thông (1827 — 1884), trong khi chấm thi Hương trường Thừa Thiên vào tháng 7 năm Tự Đức thứ 23 (1870). Được biết Nho sinh chủ yếu học bộ sách Tiét yếu do Bùi Huy Bích biên soạn, ông đã dâng sớ lên án kịch liệt, cho rằng bộ sách này “đại dé sinh những câu sáo ngữ giúp cho việc thi cử dé lừa dối kẻ hậu sinh. Những người có tài, có chí bị chôn vùi trong nền học ủy mi méo mó ấy, mà không tự biết! Vì thế tôi ví với di đoan tà thuyết, lừa đời đối dân, cũng không phải quá đáng.” Vua Tự Đức sau đó có phê như sau: “Bộ sách Tiết yếu của Bùi Huy Bích là bản tư, ding trong nhà ông ta.
Các học trò thấy ước lược có lợi đem dùng học tắt cho mau. Thứ hai là lời nhận xét của Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947): “Sách kinh, truyện và sử Tiết yếu của Bùi Huy Bich là thứ sách gì? Cắt dau, hot đuôi, bôi son, vẽ lọ, không thành tư cách một cuốn sách, mà đem ra cho công chúng học [.] chang khác gì ngọn lửa nhà Tần thứ hai trong học giới nước ta. Từ những nhận xét trên, dé dàng nhận thấy được mức độ phổ biến và tam ảnh hưởng của hệ thống thư tịch này với giáo dục khoa cử của Việt Nam vào triều Nguyễn. Mặt khác, đó cũng là hai nhận định đầu tiên về tác giả của hệ thống thư tịch nay.
Theo đó, “Bùi thị” ở đây là chi Bùi Huy Bich 3E###Š (1744-1818). Bàn về * Bùi Huy Bích: tự Hy Chương 35 ®f, hiệu là Tồn Am ##JŠ, sinh tại làng Định Công, Hà Nội. Dòng họ Bùi của ông là dòng họ có truyén thông khoa bảng, do đó Bùi Huy Bich có điêu kiện tiép xúc với sách vở từ nhỏ. Năm Cảnh Hung thứ 23 (1762), ông thi Hương đồ tứ trường.
Năm Cảnh Hung thứ 30 (1770), ông đô Đệ nhị 12 tác giả của Tiết yếu, đầu tiên phải nhắc tới Phan Thúc Truc #4. (1802-1852) ghi trong Quốc sử di biên EÑ|S338: “Tháng ba, cô quan Hành tham tụng nhà Lê là Bùi Huy Bích mat. Các sách Tứ thư, Ngũ kinh, Tính lý, Chu Lễ, Thiếu Vi các phường in đều dựa theo nguyên bản ho Bùi mà san hành, thế Nho coi đó là báu vật. Trong bài Tựa sách Thu kinh tân ước REA - Kinh truyện tân ước tự ẨŠ ER AIFE có câu như sau: “Nay lại lấy kinh: Thi, Thu, Lễ và truyện: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học chiếu theo nguyên bản Tiết yếu của Bùi Huy Bich, mà tỉnh lược di.
Bên cạnh đó, Di sản Hán Nôm thư mục déu yếu, các sách Tiết yếu có dòng “Bùi thị nguyên bản” đều nói là của Bùi Huy Bích. Các học giả hiện đại như Nguyễn Tuấn Cường, Quách Thị Thu Hiền, Bùi Anh Chưởng, Ngô Dung, Vương Hạo đều tán đồng với quan điểm này. Thế nhưng, trước đó, Hoàng Xuân Hãn (1952) cho rằng Bùi thị ở đây là Bùi Dương Lịch 42443 (1757-1827) người đã giúp La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp l¿} (1723-1804) ở Sùng Chính viện dịch Nôm các kinh điển Nho gia trong triều Tây Son [9, tr. Thuyết này hiện không được nhiều học giả ủng hộ.
Phủ định luận điểm “Bùi thị” là Bùi Huy Bích, có một điểm đáng lưu ý, hiện nay chưa tìm được bất cứ một ghi chép nào do chính Bùi Huy Bích tự nhận hoặc học trò của ông ghi lại việc ông làm ra bộ 7iếr yếu này. Cho dù, ông là nhà biên tập của hai tác phâm lớn trong nền văn học Việt Nam: Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển. Vân đề đặt ra, kinh điển bao giờ cũng có vị trí quan trọng hơn thơ văn trong quan niệm của nhà Nho, vậy mà bốn bộ kinh truyện sử lớn như vậy lại không được nhắc tới. Từ đó dẫn tới một thuyết khác cho rằng Tiét yếu là một công trình do nhiều tác giả biên tập và được gán cho Bùi Huy Bích để làm tăng uy tín học học thuật của tác phẩm, thu hút sĩ tử.
Hiện nay, bởi văn hiến không đủ dé làm dan chứng, nên van đề tác giả của tác phẩm, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc “thuật nhi bất tác” như vậy mà thôi. giáp tiến sĩ xuất thân, làm quan đến Hành tham tụng, tước Kế Liệt hầu. Năm Cảnh Hưng thứ 46 (1786), ông cáo bệnh từ quan, lui vé nhà riêng ở phường Bích Câu. Năm Gia Long thứ 17 (1818) ông qua đời.
CHE) f2 Cam) SC) (X5) Ki lý SET Jin Hi INTL› 13 Tứ thư tiết yếu co tên đầy đủ là Tứ thư đại toàn tiết yếu J#‡®X*f# là một bộ sách trong hệ thống Tiét yếu gồm 04 phan: Đại học (01 quyền), Luận ngữ (03 quyền), Mạnh Tir (03 quyên) và Trung dung (01 quyền). Luận ngữ tiết yếu" không phải là tên một cuốn sách, mà là cụm từ chúng tôi gọi phần Luận ngữ trong TTTY gồm 03 quyên Tv thu đại toàn tiết yếu — Luận ngữ (quyên 1/ quyên 2/ quyên 3) ASE Zñfãn 6 /—-/—.