CHƯƠNG 1 DUNG HỢP VĂN THỂ VÀ ĐẶC ĐIỂM THƠ TỪ TRONG TIỂU THUYẾT HỒNG LÂU MỘNG 1.HIỆN TƯỢNG DUNG HỢP VĂN THỂ TRONG HLM 1.Hiện tượng dung hợp văn thể trong tiểu thuyết cổ điển TQ: Trước hết, cần phải nói, trong truyền thống thi ca trữ tình TQ, chúng ta đã từng thấy sự xuất hiện của yếu tố tự sự trong những bài thơ trữ tình trường thiên. Chẳng hạn, ngay từ Thi Kinh đã thấy những bài như Manh (Vệ Phong), Công Lưu, Miên (Đại Nhã); sau này trong dân ca Nhạc phủ đời Hán có Khổng tước đông nam phi (còn gọi là Tiêu Trọng Khanh thê), Mộc Lan thi; hay đến đời Đường xuất hiện các tác phẩm thơ tự sự của Đỗ Phủ (chùm Tam lại, Tam biệt.), của Bạch Cư Dị (Trường hận ca, Tỳ bà hành, Tần phụ ngâm. Tuy nhiên, sự chú ý của học giả TQ lại có phần nghiêng về hiện tượng các thể vận văn như thi, từ, khúc, phú v.v hiện diện “tự nhiên nhi nhiên” trong tác phẩm văn xuôi tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng; đặc biệt là ở tiểu thuyết bạch thoại thời Minh - Thanh, với những tác phẩm được coi là “tứ đại danh tác” như Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du ký, HLM. Ngược trở lại lịch sử văn học TQ, chúng ta thấy thơ ca đã xuất hiện trong truyền kì của văn nhân đời Đường, lại thấy hiện diện trong cả biến văn đời Đường (phát hiện trong hang động Đôn Hoàng); sau đó, thấy thơ từ xuất hiện đan xen trong thoại bản đời Tống - thủy tổ của tiểu thuyết bạch thoại Minh - Thanh; còn sau này, như chúng ta đều biết, không chỉ thơ từ, mà cả các thể vận văn khác như khúc, phú, đối liên v.v, đều thấy xuất hiện trong tiểu thuyết bạch thoại Minh - Thanh.
Điều đó cho thấy rõ ràng, sự ảnh hưởng và thẩm thấu của loại hình văn thể này đối với loại hình văn thể khác. 22 z Theo thống kê của học giả TQ, chỉ tính riêng “tứ đại danh tác” thời Minh - Thanh, các tác giả đã dẫn thơ tổng cộng hơn 1700 bài, nhiều gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần so với truyền kì đời Đường, thoại bản thời Tống Nguyên và phỏng thoại bản thời Minh; trong đó, Tam Quốc diễn nghĩa dẫn 300 bài, Thủy hử truyện dẫn 576 bài, Tây du kí 714 bài và HLM 268 bài [74, 1]. Mối liên hệ giữa thơ từ, vận văn với văn xuôi tự sự trong tiểu thuyết cổ điển TQ cũng thể hiện chiều hướng diễn tiến từ ít đến nhiều, từ thô đến tinh, từ điểm xuyết rời rạc đến gắn bó chặt chẽ, thống nhất hữu cơ. Chẳng hạn, số lượng thơ trong Thủy hử gần gấp đôi Tam Quốc diễn nghĩa, Tây du kí vượt xa Thủy hử; còn thơ từ trong HLM tuy ít hơn Tây du kí, nhưng thể thức lại phong phú đa dạng (đạt tới hơn 20 loại) và xuất hiện nhiều giai tác; đặc biệt hơn, thơ trong HLM không còn chỉ là “chất phụ gia” được tác giả thêm vào một cách cứng nhắc, hay chỉ là người khách xa lạ đến tạm trú để tăng thêm vinh hạnh cho chủ, mà đã trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời với tình tiết cốt truyện và hình tượng nhân vật.Hiện tượng dung hợp văn thể trong tiểu thuyết HLM: Đối với tiểu thuyết HLM, hiện tượng dung hợp văn thể biểu hiện rất rõ.
Các thể tài vận văn mà HLM đưa vào, có thể nói là phong phú đa dạng, vượt xa các tiểu thuyết trước đó. Nhà Hồng học Thái Nghĩa Giang trong HLM thi từ khúc phú bình chú cho rằng, thể tài vận ngữ trong HLM có “thơ, từ, khúc, phú, ca dao, ngạn ngữ, tán, văn điếu, kệ ngữ, câu đối, biển ngạch, đố đèn, tửu lệnh, biền văn, văn phỏng cổ…, không thiếu thể nào. Nói về thơ, có ngũ tuyệt, thất tuyệt, ngũ luật, thất luật, bài luật, ca hành, tao thể; thể tài có thơ vịnh hoài, thơ vịnh vật, thơ hoài cổ, thơ tức sự, thơ tức cảnh, thơ đố; hình thức có hạn đề, hạn vận, hạn thể, cùng đề phân vịnh, phân đề hợp vịnh; có thơ ứng chế, liên cú, phỏng cổ, có thơ mô phỏng theo cách luật bài Xuân giang hoa nguyệt dạ thời sơ Đường, có thơ mô phỏng theo Trường hận ca, Kích âu ca thời Trung Vãn Đường, có thơ theo lối Li tao, Chiêu hồn nước Sở nhưng mạnh dạn sáng 23 z tạo…, muôn màu muôn vẻ, phong phú đa dạng. Đó thực sự là “văn bị chúng thể”, là điều chưa từng thấy trong các tiểu thuyết khác”.[55, 1-2] Chu Lôi trong bài tựa cuốn sách HLM thi từ giải tích của Lưu Canh Lộ, cũng có những thống kê cụ thể về các thể vận văn trong tiểu thuyết HLM: TT Thể loại Số bài 1 Thơ 81 2 Từ 18 3 Khúc 18 4 Phú 1 5 Ca 3 6 Kệ 4 7 Ca dao 1 8 Ngạn ngữ 1 9 Tán văn 1 10 Văn điếu 1 11 Thơ đố đèn 13 12 Đố thơ 11 13 Đố khúc 1 14 Tửu lệnh 16 15 Lệnh bài xúc xắc 7 16 Biền văn 1 17 Văn phỏng cổ 1 18 Thư tín 3 19 Lời đoán 1 20 Đối cú 2 21 Đối liên 22 22 Biển ngạch 18 Thống kê ở trên bao gồm 225 bài, trừ đi 18 biển ngạch, còn lại 207 bài thơ văn.
Qua bảng trên ta thấy, riêng thơ có tới 81 bài và từ gồm 18 bài. Cụ 24 z thể hơn, về thể tài bộ phận thơ, bao gồm: ngũ ngôn tuyệt cú 4 bài, thất ngôn tuyệt cú 26 bài, ngũ ngôn luật thi 9 bài, thất ngôn luật thi 37 bài, bài luật 2 bài, ca hành 2 bài và nhạc phủ 1 bài.Nguyên nhân của hiện tượng dung hợp văn thể: Một câu hỏi chắc chắn sẽ được người đọc đương đại nêu ra: nguyên nhân nào khiến các tác gia tiểu thuyết ưa thích đưa văn vần vào tiểu thuyết (trên thực tế, hiện tượng này đã từ trào lưu thời thượng định hình thành thể thức của thể loại tiểu thuyết)? Học giả Lý Vạn Quân, trong bài viết Chức năng của “thơ” trong tiểu thuyết trường thiên cổ điển TQ, cho rằng có 5 nguyên nhân khiến các nhà tiểu thuyết cổ điển TQ đưa thơ vào tiểu thuyết: Thứ nhất, do thơ cổ của TQ đa phần là thơ ngắn, dễ đưa vào tiểu thuyết. Thứ hai, đưa thơ vào để nâng cao địa vị của tiểu thuyết, vì tiểu thuyết vốn không được xếp vào hàng “cửu lưu” (chính thống). Thứ ba, đưa thơ vào để tăng thêm ý vị của tiểu thuyết.
Không ít tác giả của truyền kì đời Đường là những nhà thơ lớn, tiểu thuyết mà họ viết bản thân đã có chất thơ, lại thêm vào một số thơ nữa, nên ý vị thơ ca càng thêm nồng đượm, ý cảnh càng thêm sâu sắc. Thứ tư, trường thiên tiểu thuyết có nguồn gốc từ thoại bản, mà trong thoại bản, thuyết thoại nhân đã đưa hàng loạt thơ từ vào. Thủy hử truyện, Tây du kí với số lượng thơ từ rất lớn, chính là minh chứng cho điều đó. Thứ năm, chịu ảnh hưởng của kinh Phật Ấn Độ, trong kinh Phật có “kệ”, nghĩa là “tụng”, tức “xướng từ”, thường do 4 câu có số chữ cố định hợp thành, “kệ” cũng chính là thơ.
Cuốn Lục tổ đàn kinh do tăng nhân TQ viết có 30 bài. Đây là bằng chứng có sức thuyết phục về việc văn xuôi tự sự TQ chịu ảnh hưởng của kinh Phật Ấn Độ. Lục tổ đàn kinh có ảnh hưởng đến các tiểu 25 z thuyết như Tây du kí, HLM. Trong Thủy hử truyện đã có kệ, còn kệ trong Tây du kí xuất hiện càng nhiều1.
Một học giả khác đã lý giải thêm về nguyên nhân của hiện tượng này qua 2 khía cạnh: Một là, do di sản thơ ca của TQ phong phú. Văn Nhất Đa trong cuốn Động hướng lịch sử của văn học từng nói: “Từ Tây Chu đến đời Tống, hơn một nửa bộ văn học sử của chúng ta, thực chất chỉ là một bộ lịch sử thơ ca”. Quả vậy, từ sau khi Thi Kinh ra đời, thì Sở từ, Hán phú, Nhạc phủ Lưỡng Hán, thơ văn nhân Ngụy Tấn, Đường thi, Tống từ, đều là những mốc son trong lịch sử văn học, là báu vật trong di sản thơ từ của dân tộc Trung Hoa. Có thể thấy, kho báu thơ từ phong phú đó đã cung cấp tư liệu, tạo cơ sở tiền đề cho việc đưa thơ từ vào tiểu thuyết.
Hai là, do khí chất tinh thần mang đậm tính thơ của TQ. Sự thực lịch sử chứng minh, bất kể là phương Tây hay phương Đông, sự xuất hiện của hiện tượng văn học nghệ thuật mang đặc sắc dân tộc bao giờ cũng có mối quan hệ to lớn với khí chất tinh thần của dân tộc đó. Hiện tượng đưa thơ từ vào tiểu thuyết liên quan mật thiết tới khí chất tinh thần văn hóa mang đậm tính thơ hết sức độc đáo của TQ. Khổng Tử sáng lập nên học thuyết Nho gia lấy nhân học làm hạt nhân, đã bảo lưu không ít “trí tuệ tính thơ”.
Đạo gia ban đầu, cội nguồn tư tưởng của nó là tư tưởng tôn giáo nguyên thủy và tư tưởng thần tiên thượng cổ, phương thức tư duy của nó có mối liên hệ tự nhiên với phương thức tư duy mang tính thơ nguyên thủy; vì vậy cho dù triết học Lão, Trang giàu tư tưởng biện chứng pháp chất phác cổ đại, nhưng trong tinh thần lí tính của nó vẫn luôn lấp lánh hào quang tính thơ. “Phật” nghĩa gốc là “ngộ”, Thích Ca Mâu Ni vì giác ngộ mà thành Phật, thiền tông của Phật giáo cũng coi trọng “ngộ đạo”, phương thức tư duy trực giác chỉnh thể này là tương thông với văn hóa tính thơ TQ. 1 Lý Vạn Quân là Giáo sư Khoa Trung Văn, Đại học Sư phạm Phúc Kiến. Bài viết trên của ông đăng trên tạp chí Thi từ tổng vựng, số ra ngày 17/7/2005.
26 z Chính vì vậy, văn hóa Nho Phật Đạo TQ tiếp tục kế thừa tính thơ của văn hóa cổ đại buổi đầu và mang đặc sắc văn hóa tính thơ. Tiểu thuyết cổ điển Minh - Thanh thể hiện nhiều đặc điểm của văn hóa tính thơ truyền thống. Các tác phẩm đều mang sắc thái thần kì nhất định, thỉnh thoảng lại xuất hiện những nhân vật hoặc câu chuyện kiểu thần thoại. Chưa nói đến bộ tiểu thuyết thần ma Tây du kí, chỉ cần đọc Tam Quốc diễn nghĩa đã thấy xuất hiện những câu chuyện thần kì kiểu như “Thất tinh đàn Gia Cát tế phong”, “Bốc Chu dịch Quản Lộ tri cơ”, “Ngũ Trượng nguyên Gia Cát nhượng tinh”, “Vũ hầu hiển thánh định quân sơn” v.