phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 1. trang chia ra 3 chƣơng nhƣ sau. Chương thứ nhất : Thơ và những quan niệm cơ bản về thơ. (27tr) Chương thứ hai : Quan niệm của Xuân Diệu về đặc trưng thơ.(48tr) Chương thứ ba : Quan niệm và những đánh giá của Xuân Diệu về thơ.
NỘI DUNG CHƢƠNG THỨ NHẤT THƠ VÀ NHỮNG QUAN NIỆM CƠ BẢN VỀ THƠ I - Lƣợc khảo một số định nghĩa về thơ. Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm, là hình thái văn học đầu tiên trong đời sống con ngƣời. Từ thủa bình minh ấu thơ của lịch sử loài ngƣời, thơ ca đã ra đời đồng hành cùng sự hình thành và phát triển của con ngƣời. Những bài hát trong lao động của ngƣời nguyên thuỷ, những lời cầu nguyện mong ƣớc mùa màng tốt tƣơi, những bài niệm chú, có thể đƣợc xem là những hình thức đầu tiên sơ khai, đơn giản của thơ.
Nhƣng thơ còn là một “hình thức nghệ thuật cao quý, tinh vi”. Nên chỉ đến khi con ngƣời có nhu cầu tự biểu hiện, thơ mới thực sự hình thành, theo đúng nghĩa của nó. Theo quan niệm thông thƣờng, thuật ngữ thơ hàm nghĩa cho cả hai loại thể thơ trữ tình và thơ tự sự. Song đặc trƣng của thơ bộc lộ tập trung nhất qua thơ trữ tình.
Hiện thực cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho thơ nẩy mầm đâm lá. Nhƣng đặc trƣng của thơ lại gắn với những cảm xúc, suy tƣ với chiều sâu của thế giới nội tâm trong mỗi cá nhân ngƣời nghệ sĩ. Và ở những cảnh huống đặc biệt không hề giống nhau, thi ca đã làm nên những phong cách và giá trị vô cùng phong phú. Từ những phẩm chất và đặc điểm khác nhau đó mà có nhiều cách lý giải không hề giống nhau, thậm chí đối lập nhau về bản chất của thơ.
Có nhiều ngƣời xem bản chất của thơ ca là tôn giáo. Nó gắn với những gì thiêng liêng huyền bí. Platon xem “thơ hay là tặng phẩm của thần linh”. Sau này Hayđêghơ, Hăngri Brêmông, Malácmê.
đều chịu ảnh hƣởng của quan niệm cho thơ là nhịp cầu trung gian nối thần linh với loài ngƣời. Mặc dù thơ gắn với thế giới nội tâm sâu kín đa thanh, đa dạng, đa chiều, vừa hữu hình vừa vô hình, không dễ gì nắm bắt. Song không vì thế mà đẩy thơ ca vào địa hạt của tôn giáo, thần bí xa lạ không bắt rễ và thoát ly với cuộc đời. 13 z Thơ từ bao đời vẫn là “tiếng nói tươi trẻ nhất” , “hồn nhiên nhất của tâm hồn” đƣợc chảy ra từ mạch ngầm của cuộc sống, nói tiếng nói của cuộc sống, một tiếng nói tinh khiết và sâu thẳm nhất.
Đạo thiên chúa giáo có quan niệm : mỗi ngƣời tin đạo đều có thể tìm cho mình một cách đến với chúa, đến với thiên đƣờng. Vậy thì cũng có thể nói rằng : mỗi nhà thơ, ngƣời đọc thơ, yêu thơ đều có thể tìm cho mình một cách để đến với thơ hay. Và có bao nhiêu nhà thơ, ngƣời đọc thơ, yêu thơ thì cũng có thể nói có bấy nhiêu cách định nghĩa về thơ. 1- Xung quanh một số định nghĩa về thơ cổ Chịu ảnh hƣởng của văn học phƣơng Đông, các nhà thơ Việt Nam xƣa tƣ duy và sáng tạo thơ chủ yếu theo các quan niệm của thơ ca Trung Quốc.
Thơ là để nói lên cái chí, lời ca là để làm cho lời nói đƣợc lâu dài. Hay ở lòng thì gọi là chí, nói ra thành lời thì gọi là thơ. Nhƣng thơ có cái cơ sở không đổi của nó mà tứ là cái không ở yên một nơi, tuỳ tính hợp phận nên ít khi có thể làm bài thơ nào cũng hay. Nếu cho là khó thì cái dễ sẽ tới, còn nếu xem thƣờng là dễ thì cái khó lại ngay (theo Văn tâm điêu long - Lƣu Hiệp).
Tuy chịu ảnh hƣởng và vay mƣợn nƣớc ngoài nhƣng khi vào Việt Nam các quan niệm đó đã đƣợc Việt hoá nhuần nhuyễn đến mức dƣờng nhƣ nó là tài sản tinh thần của ngƣời Việt Nam. Có thể nói rằng quan niệm “thi dĩ ngôn chí” hay “văn dĩ tải đạo” chi phối phần lớn các sáng tác của các nhà thơ xƣa. Mặc dù vậy vẫn có những sáng tác thơ ca để ký thác tâm sự tình cảm riêng tƣ nhƣng bao trùm chủ đạo vẫn là để nói cái chí, để giữ gìn và bảo vệ đạo lý. “Chí anh hùng” của Nguyễn Công Trứ khá tiêu biểu cho quan niệm trên.
Ông quan niệm làm trai phải cho đáng nên trai, sống có chí khí, sống cuộc đời rộng lớn, không bằng lòng với cuộc sống tầm thƣờng chật hẹp. Sống có chí khí là một đòi hỏi của xã hội, một trách nhiệm, một món nợ phải trả cho xã hội - món nợ tang bồng. Rất hào hùng và đầy khí phách khi Nguyễn Công Trứ viết Chí làm trai nam bắc tây đông, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể. 14 z Chí những toan xẻ núi lấp sông, Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ.
Cùng nằm trong quĩ đạo của quan niệm về thơ xƣa nhƣng các nhà thơ lớn cũng không hề cứng nhắc đến mức duy lý trí : làm thơ chỉ để nói cái chí, để chở đạo mà còn rất sâu sắc đúng đắn khi quan niệm : “thơ khởi phát từ trong lòng người ta” (Lê Quí Đôn). Có nghĩa là thơ không chỉ bó hẹp trong lãnh địa của “chí” , của “đạo” do lý trí điều khiển sai khiến mà thơ còn là kết quả của sự rung động của tấm lòng, của con tim. Không đƣợc lọc qua và “đầu thai” bằng cảm xúc, bằng tấm lòng, bằng tình cảm làm sao có đƣợc những áng thơ hay tồn tại mãi trong lòng ngƣời đọc. Cũng vƣợt lên trên quan niệm về thơ trong văn học cổ, gần gũi với quan niệm về thơ với Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhậm phát biểu : “Mây gió cỏ hoa xinh tươi kỳ diệu đến đâu hết thẩy cũng đều từ trong lòng nẩy ra” và cao hơn, sâu hơn ông đi vào bản chất của quá trình sáng tạo thơ, cái thiết cốt khơi nguồn cho sáng tạo thơ hay là khi lòng ngƣời xúc động, và làm thăng hoa những giá trị tƣởng nhƣ bình thƣờng bỗng trở thành bất tử : “Hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần”.
Xúc động càng lớn sự thần kỳ trong ngọn bút càng cao. Có thể nói sự xúc động lớn đã tạo ra những “phút giây thiêng” sáng tạo nên những giá trị tinh thần vĩnh cửu. Phải chăng cũng vì lý do trên mà có ngƣời đã quan niệm thơ là tặng phẩm của thần thánh? Xuất phát từ giây phút kỳ diệu “để cho ngọn bút có thần” nhà thơ xƣa không hề khống chế khả năng vô biên của trí tƣởng tƣợng. Cho nên cũng lại xuất hiện quan niệm : “thơ là sự lung linh giữa khả giải và bất khả giải”.
Đó thực sự cũng là một quan niệm về thơ không phải không đúng đắn và tiến bộ. 2- Xung quanh một số định nghĩa về thơ hiện đại Mỗi thời đại khác nhau có những quan niệm về thơ không giống nhau. Tất nhiên không có sự đoạn tuyệt và cắt đứt, không có sự loại bỏ một cách tuyệt đối. Thực tế cho thấy không ít những quan niệm về thơ tronng xã hội thời xƣa vẫn đƣợc kế thừa và phát huy một cách tích cực vừa làm giầu thêm kho 15 z tàng lý luận về thơ vừa làm phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Chẳng hạn những câu thơ sau đây tuy cách diễn đạt hình tƣợng thơ có khác nhau, nhƣng ít nhất vẫn cùng chung một dòng chảy, một quan niệm về vai trò chức năng của thơ, một điểm đến, một địa chỉ là vì cuộc sống con ngƣời, sự tiến bộ của loài ngƣời : - Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà (Nguyễn Đình Chiểu) - Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền. (Sóng Hồng) - Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong. (Hồ Chí Minh) Những ý kiến của Hồ Chí Minh và Sóng Hồng về thơ, có thể đƣợc coi là những định nghĩa tiêu biểu trong quan niệm về thơ thời hiện đại. Nó ảnh hƣởng và chi phối nhiều đến thơ ca Việt Nam thế kỷ XX.
Họ là nhà cách mạng nhƣng đồng thời cũng là nhà thơ có không ít những vần thơ hay. Đặc biệt là những phát biểu về đặc trƣng, bản chất, tác dụng của thơ. Sóng Hồng, trong lời giới thiệu tập thơ của mình đã nêu những định nghĩa rất khái quát và sâu sắc về thơ. Ông quan niệm : “Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.
Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà thơ, mà nhiều khi thông qua tình cảm đó, nói lên niềm hi vọng của cả một dân tộc, những ước mơ của nhân dân, vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử loài người”. (Sóng Hồng) Với vị trí là cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, Tố Hữu phát biểu : “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”, “Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống”. Coi cuộc sống rộng lớn vô cùng, nó nhƣ bông hoa và phần hƣơng thơm quyến rũ nhất, giá trị nhất là phần “nhuỵ”. Thơ đƣợc ví nhƣ nhuỵ hoa là coi thơ nhƣ tinh hoa nhất tạo hƣơng thơm cho cuộc sống.
16 z Bàn về tính hàm súc và khả năng diễn đạt của thơ ca, Tế Hanh cho rằng “Thơ là phương tiện tối thiểu nhất trong các ngành nghệ thuật để đạt được những kết quả cao nhất”. Khi bàn đến qui trình sáng tạo thơ, làm thế nào để từ hiện thực cuộc sống sáng tạo ra thơ? Nguyễn Đình Thi khẳng định : “Thơ là tiếng nói đầu tiên tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống”. Với Xuân Diệu, ông lại có một cách định nghĩa riêng về thơ. Đành rằng thơ là kết quả của cái phần cao sâu nhất là tâm trí của những con ngƣời chân chính, nhƣng phải có sự đồng điệu, lòng say mê thì mới tạo ra thơ: “Thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người lao động, phấn đấu, suy nghĩ, yêu thương trong cái phần cao nhất, sâu nhất của họ tức là tâm trí.” hoặc “Ai cảm được cái kỳ diệu của tình yêu thì cũng có thể bằng cách tương đương liên hệ mà lĩnh hội được cái kỳ diệu của thơ.
Tình yêu và thơ là hai phạm trù mà trong đó cái tuyệt vời thông minh kết hợp với cái tuyệt diệu ngây thơ, là hương đặc biệt của một số tâm hồn thi sĩ và tình nhân.