mở đầu bằng việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Việc phê bình tập thơ Việt Bắc manh nha cho yêu cầu đòi tự do dân chủ tuyệt đối trong sáng tạo nghệ thuật của các văn nghệ sĩ trí thức miền Bắc. Bộ phận thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm chính là tiếng nói tự do, dân chủ tuyệt đối trong sáng tạo nghệ thuật về cả nội dung và hình thức văn chương. Về hình thức, thơ của các tác giả Nhân văn - Giai phẩm chủ yếu là thể thơ tự do.
Đây là hình thức không phổ biến trong thơ ca đương đại. Bởi vì theo quan niệm truyền thống thì lối thơ không vần khiến quần chúng khó đọc, khó nhớ, khó hiểu. Nhưng hình thức thơ tự do lại nói lên được nhiều cung bậc, nhiều sắc thái trong tình cảm con người. Với hình thức thơ tự do, các nhà thơ có thể thoải mái bộc lộ những xúc cảm của mình.
Về nội dung, thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm thể hiện rõ tinh thần Nhân văn - Giai phẩm. Trước hết, đó là những vần thơ bộc lộ mọi cảm xúc, cung bậc tình cảm cá nhân. Tiếng nói cá nhân đòi tự do dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật là tiếng nói tâm tình chủ đạo của thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm. Ý thức đổi mới thơ có ở tất cả các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm.
Lê Đạt nhận thức được rằng thơ của mình bị cuộc đời lãng quên vì nó toàn tô hồng. Thơ không phải là tiếng nói xót xa, đau đớn trong tâm hồn con người nên nó không có tác dụng thanh lọc tâm hồn. “Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ. Vẽ phấn, bôi son tô toàn mầu đỏ.
La liệt đầy đường hoa nở 19 z chim kêu. Tốt tốt! Và và! Tốt tốt! Qua thơ tôi cuộc đời như hết chuyện…”. (Nhân câu chuyện mấy người tự tử, Lê Đạt) Trong bài thơ Cửa biển, Văn Cao đánh giá cao vai trò của tuổi trẻ. Tuổi trẻ là sáng tạo.
Và nhiệm vụ của nhân dân là ươm những mầm non ấy và tiêu triệt những con sâu hại Đảng, hại dân. Chủ nghĩa nhân văn được thể hiện rất sâu sắc trong các bài thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm. Các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm cho rằng, mạng người không phải là cỏ rác. Mất một con người như mất một phần xương thịt của chính mình.
Vì vậy, nhà thơ Lê Đạt phải gào thật to cho đến khi lạc giọng “Không gì đau thương bằng mất một con người” (Nhân câu chuyện mấy người tự tử, Lê Đạt) Tinh thần này trái ngược với luật 10/59 của bọn Ngô Đình Diệm khi chúng lê máy chém đi khắp miền Nam với tuyên bố “giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Hiện thực đời sống được phản ánh trong thơ Nhân văn – Giai phẩm từ góc nhìn cá nhân, từ góc nhìn trần trụi. Dĩ nhiên đó là hiện thực được phản ánh dưới một hình thức nghệ thuật có cách tân. Điều này cũng được thể hiện trong các sáng tác văn xuôi trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm.
20 z Vai trò của thơ được thể hiện rõ hơn khi hầu hết các bài viết trên báo chí đương đại chú ý tới các sáng tác thơ của Nhân văn – Giai phẩm nhiều hơn là các thể loại khác. Số lượng nhà thơ và tác phẩm thơ có trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm nhiều hơn so với các thể loại khác. Trong năm số tập san Giai phẩm (Giai phẩm mùa xuân, Giai phẩm mùa thu tập 1, 2, 3 và Giai phẩm mùa đông) có tới 28 bài thơ trên 26 bài văn xuôi, 4 bài nhạc, 1 bài kịch thơ. Các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm có ý thức cao về vai trò, trách nhiệm của người làm thơ.
Họ không chỉ sống cho riêng mình mà sống vì nghệ thuật, vì cái đẹp, vì con người. Khi đất nước gặp thương đau thì trách nhiệm của nhà thơ càng lớn. “Đất nước hôm nay trĩu đầu ngòi bút. Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người” (Làm thơ, Lê Đạt).
Các nhà thơ xưa đã dạy: mỗi dòng thơ phải được viết bằng máu. Nếu thiếu đi chất men cảm xúc chân thành thì thơ dễ dàng rơi vào sáo rỗng, hời hợt, lặp đi lặp lại những danh từ đã có sẵn, một số tình cảm đã có rồi. Thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm chưa thực sự cách tân nhưng việc đòi hỏi đổi mới trong thơ của các tác giả Nhân văn - Giai phẩm lại rất mạnh mẽ.3 Diện mạo chung về thơ trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm Về tác giả Hầu hết các nhà thơ có tên trên báo Nhân văn và tập san Giai phẩm đều là những nhà thơ xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Quang Dũng, Hữu Loan… đều là những thi sĩ mới nổi trong và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Hầu hết các tác giả Nhân văn – Giai phẩm đều là những người gắn bó với cuộc Cách mạng tháng Tám và đóng góp sức mình cho kháng chiến, riêng Phan Khôi và Nguyễn Bính đã nổi tiếng từ thời kỳ Thơ Mới và đã sáng tác được nhiều bài thơ để đời. Trong nhiều nhà thơ Nhân văn – Giai phẩm, chúng tôi chỉ đi sâu vào các tác giả chính sau đây: 21 z Tháng 9 năm 1945, Hoàng Cầm và Hoàng Tích Chù thành lập ban kịch phương Đông đi trình diễn khắp các vùng Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh. Ngày mùa Đông 26 – 11 – 1946, vở kịch thơ Kiều Loan được trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, bởi ngay sau đó tháng 12 – 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đoàn kịch phải rời Hà Nội đến các vùng lân cận. Từ năm 1948 đến năm 1952, Hoàng Cầm phụ trách đội văn nghệ tuyên truyền giải phóng quân đầu tiên trong quân đội.
Ông chỉ đạo và phát triển văn nghệ liên khu Việt Bắc. Tháng 7 năm 1953, ông được giao làm trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị. Năm 1946, Hoàng Cầm viết vở kịch Người điên. Năm 1948, ông viết bài thơ Bên kia sông Đuống.
Năm 1951, ông viết kịch Ông cụ điên. Năm 1952, ông viết kịch Lên đường và Cô gái nước Tần đăng trên báo Tân Dân. Năm 1955, ông chuyển sang Nhà xuất bản Văn nghệ và làm việc ở đó. Cũng trong năm ấy, Hoàng Cầm xuất bản hai tập sách: Quê hương (thơ, Nxb Văn nghệ) và Mẹ tôi kể lại (truyện thơ, Nxb Văn nghệ).
Với kháng chiến, Hoàng Cầm là một trong những người đã đóng góp nhiều công sức: chín năm sáng tác, trình diễn và máu xương gia đình: một vợ, một con và một em trai chết trong kháng chiến. Những bài thơ của Hoàng Cầm lúc đó có khả năng diệt giặc hơn cả những võ khí tối tân như SKZ (súng không giật). Trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm, Hoàng Cầm đã viết Tiếng hát quan họ, Mùa xuân đến rồi đây, Thơ qua đài phát thanh, Em bé lên sáu tuổi và kịch thơ Tiếng hát Trương Chi. Trần Dần cùng với Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng Dạ Đài với tuyên ngôn 16 – 11 – 1946 “Chúng tôi, một đoàn vong gia thất thổ, đã đầu thai nhằm lúc sao mờ…”.
Đến ngày 19 – 12 – 1946, ông cùng nhóm Dạ Đài cho ra báo Dạ Đài 2 khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa bùng nổ. Ông về Nam Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền Cách mạng ở Huyện Vụ Bản. Năm 1948, ông ở Ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc Sư đoàn 316), làm công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng 22 z Địch, sau đó làm báo ở mặt trận Tây Bắc và phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn La. Trần Dần cùng Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên - Nhóm Sông Đà.
Thời gian này ông bắt đầu làm thơ bậc thang và vẽ tranh lập thể, bị cho là khó hiểu. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc ấy có tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) từ năm 1949. Năm 1954, cùng với Đỗ Nhuận, Tô Ngọc Vân, Trần Dần tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và viết truyện dài Người người lớp lớp. Chiến dịch kết thúc, ông được cử sang Trung Quốc viết thuyết minh phim Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Tuy nhiên do bất đồng với người cán bộ chính trị đi cùng nên ông "nhường" cho người này viết thuyết minh. Năm 1955, ông tham gia phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu và là cây bút trụ cột trong các tập san Giai phẩm và báo Văn với bài thơ Nhất định thắng và truyện ngắn Lão Rồng. Nhà thơ Hữu Loan tham gia Việt Minh từ năm 1936. Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra.
Trước năm 1945, ông từng làm cộng tác viên của các tập san văn học tại Hà Nội. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại báo Văn nghệ một thời gian.
Từ năm 1956-1957, ông tham gia viết cho báo Nhân văn - Giai phẩm. Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ cộng sản nịnh hót, đố kỵ, ám hại nhau v. như tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót, Đêm và truyện ngắn Lộn sòng. Như các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm khác Lê Đạt cũng tham gia cách mạng ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công.
Gần như trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn, sau lên Tuyên huấn Trung ương, trực tiếp theo dõi phong trào văn nghệ, văn hóa và giáo dục. Vì vậy, ông có dịp tiếp 23 z xúc với gần như tất cả giới văn nghệ Cách mạng Việt Nam. Hòa bình lập lại năm 1954, ông về Hà Nội làm biên tập viên, bí thư chi bộ của báo Văn Nghệ, rồi được học lớp tiếp quản để về tiếp quản khu 300 ngày ở Quảng Ninh, trước khi Nhân văn - Giai phẩm bùng nổ.