phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương. CHUONG 1: DIEU KIỆN, TIEN ĐÈ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TAM CỦA VƯƠNG DƯƠNG MINH 1. Bối cảnh chính trị, xã hội và tư tưởng của Trung Quốc từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16 * Về chính trị, xã hội Năm 1368, triều đại nhà Minh bắt đầu với sự lên ngôi của Chu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ). Thời kỳ khởi đầu, đất nước bị tổn hại nghiêm trọng về kinh tế, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Dé giải quyết vấn đề về kinh tế trước mắt, triều đình Minh Thái Tổ tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tiêu biểu là chính sách kêu gọi nhân dân khai khan đất hoang, cho họ có quyên sở hữu đất đai vĩnh viễn mà không đánh thuế; kêu gọi những dân lưu tán từ thời chiến hồi hương, cấp cho họ ruộng hoang, ban phát công cụ, lương thực dé họ an tâm phát triển. Với chính sách ruộng đất này, xã hội thời Minh đã hình thành nên một tầng lớp địa chủ đông đảo. Bên cạnh đó, Minh Thái Tổ cũng ban phát rất nhiều đất đai cho các công than, công hau, thừa tướng, rồi sau này, còn phân phát đất cho cả hoàng tộc, vương khanh. Số lượng ruộng đất được tầng lớp quý tộc và địa chủ sở hữu rất lớn, điều này khiến cho đa phần người dân không còn ruộng đất để canh tác.
Từ đây nảy sinh những xung đột lẫn nhau về mặt lợi ích. Ngay cả khi ruộng đất được đo đạc và phân chia cũng không giảm bớt được mâu thuẫn. Cùng với sự phát triển của kinh tế đô thị và sự lớn mạnh của các thương nhân tự do, thời ky nay đã bắt đầu xuất hiện những công trường thủ công có tính chất của tư bản, đó là nguyên nhân làm đây nhanh quá trình tan rã của nền sản xuất phong kiến. Sự bất 6n trong các giai cấp vốn đã khó giải quyết, cho đến thời kỳ của Vương Dương Minh càng trầm trọng hơn bởi sự suy yếu của chính quyền trung ương.
10 Thời kỳ của Vương Dương Minh nằm trong khoảng thời gian trị vì của bốn vua từ Hiến Tông đến Thế Tông'. Chính trị, xã hội lúc này đã suy thoái nghiêm trọng. Trong nội bộ triều đình xảy ra nhiều biến cố, các con cháu trong hoàng tộc, vì bất mãn với chính quyền trung ương nên tự động làm phản, khiến cho triều đình phải đem quân đi đánh dep, nội chiến nổ ra, đời sống người dân lâm vào khốn khó. Tiếp theo đó là nạn hoạn quan hoành hành.
Thời ky đầu khi mới thành lập nước, hoạn quan bị giới hạn về học thức. Chu Nguyên Chương cấm hoạn quan được xen vào chính trị, hạn chế pham ham và chức tước của chúng. Nhưng đến đời Thành Tổ, hoạn quan lại được trọng dụng và càng ngày càng mở rộng tầm ảnh hưởng về chính trị. Dưới tầm ảnh hưởng lớn của nạn hoạn quan đã khiến tư tưởng của bộ phận dân chúng bị lệch lạc.
Người người nhà nhà mong muốn trở thành hoạn quan: “Nhiều thanh niên tự hoạn, nhiều cha mẹ hoạn con từ khi chúng mới vài tuổi dé gây dựng tương lai cho chúng, mà mong sau nay chúng làm vẻ vang cho cả nhà, cả họ được nhờ, vi vậy cái họa hoạn quan đời Minh hon cả các thời khác” [18, tr. Nạn hoạn quan thúc day cho triều đại suy vong nhanh hơn, hoạn quan ở khắp nơi, có chức tước và quyên lực, tuy có học thức nhưng mưu mô, nham hiểm dần đưa vua vào con đường hoang dâm, ăn chơi trụy lạc, bỏ bê triều chính, tiêu xài xa xỉ. Điều này làm cho kinh tế của đất nước thụt giảm rõ rệt, đời sống nhân dân vốn đã khốn khó vì nội chiến nay càng thảm hại hơn. Đứng trước hiện trạng của đất nước, giai cấp địa chủ đã dan trở nên suy yếu.
Bất lực trong viéc giải quyét các van dé, mâu thuẫn của xã hội, một bộ phận không nhỏ các địa chủ và đại địa chủ không dám nhìn thăng vào hiện thực. Tư ' Các đời vua thời Vương Dương Minh: Minh Hiến Tông (1464-1487); Minh Hiếu Tông (1487 1505); Minh Vũ Tông (1505—1521); Minh Thê Tông (1521—1567). 11 tưởng của họ quay trở về phát triển huyền học”. Vương Dương Minh trở thành người tiêu biểu cho những tư tưởng đó.
* Về tu tưởng triết hoc Dưới tác động của giai cấp, kinh tế, chính trị, xã hội, Nho giáo đời Minh được phân chia thành ba thời kỳ, mỗi thời kỳ có những nét đặc trưng riêng. Thời kỳ thứ nhất từ vua Thái Tổ (1368-1398) đến đời vua Thành Tổ (1403-1424). Các học giả thời kỳ này tiếp nối những thành tựu nho học của thời Nguyên nhưng chưa có ai đề xướng lên tư tưởng mới. Mặc dù không có tư tưởng mới nhưng những học giả đã phát triển lại hệ thong giang day va nghiên cứu Nho giáo tạo ra tiền đề dé những hoc giả đời sau phat trién.
Thời kỳ thứ hai từ vua Nhân Tông (1425) đến vua Mục Tông (1567- 1572) Nho giáo thời kỳ này phát triển và thịnh hành hơn trước. Có nhiều học giả trứ danh xuất hiện như Tiết Huyên, Ngô Dư Bật, Trần Hiến Chương, Vương Dương Minh. Những học giả này người làm quan, người ân cư rải rác khắp nơi trên đất nước. Họ là những người sáng lập nên các học phái nho học của riêng mình để truyền bá học thuyết.
Nổi lên mạnh mẽ của trong số các học phái là Hà Đông phái, Diêu Giang phái, Sùng Nhân phái, Bạch Sa phái. Những học phái này tiếp nối những di sản của đời trước cũng như của thời kỳ thứ nhất dé lại và phát triển thành những học thuyết của riêng mình như Tâm học của Diêu Giang phái. Thời kỳ thứ ba từ đời vua Thần Tông (1572-1620) đến hết đời Minh. Thời kỳ này chính trị đã mục rudng, vì thé xã hội cũng loạn lạc, sự học ở thời kỳ nay không còn được hưng thịnh như trước nữa.
Vì dé cứu lay sự học cũng ; 2 Huyén hoc là một trào lưu tư tưởng triết học thịnh hành vào thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, ban đầu chính yêu dùng dé giải thích "tam huyện" (Lão Tử, Trang Tử va Chu Dịch), về sau phát triên trở thành công cụ thảo luận, giải thích các kinh điên Đạo gia, Nho gia. 12 như thời cuộc nên các học giả thời kỳ này cho ra đời hai học phái là Đông Lâm phái và Thủ Thiện phái, chủ trương lập phái là để giảng dạy đạo của thánh hiền với hy vọng cứu vớt thời cuộc. Thời kỳ của Vương Dương Minh nằm ở phân kỳ thứ hai khi Nho học đời Minh đạt sự phát triển cực thịnh. Tiền đề tư tưởng Tâm của Vương Dương Minh 1.
Các quan niệm về Tâm trong triết học Trung Quốc Tâm là phạm trù phổ biến, cơ bản nhất và chung nhất trong hệ thống học thuyết của các giáo phái ở Trung Quốc. Tư tưởng Tâm của Vương Dương Minh sở đĩ đạt đến đỉnh cao là do chịu ảnh hưởng bởi quan niệm Tâm của Nho giáo, Đạo gia và Phật giáo. * Quan niệm về Tâm trong Nho giáo Trong Nho giáo, Tâm là một phạm trù tối quan trọng. Trải qua nhiều thế kỷ, phạm trù Tâm đã được các nhà tư tưởng của Nho giáo phát triển thành rất nhiều ý nghĩa.
Chữ Tam (ty) được tượng hình từ quả tim” vi thế nên ý nghĩa đầu tiên của Tâm đó là tạng, là khí quan tư duy. Tâm là cơ quan quan trọng nhất trong ngũ tạng, ngoài khả năng duy trì hoạt động của cơ thé con người, trong tư tưởng của người xưa, nó còn có thể suy tư. Mạnh Tử từng nói “Tam chi quan, tac tu” [38, tr.894]nghia là tâm là co quan suy tu, tâm được trời ban cho từ khi sinh ra, tâm giúp con người biết được đâu là đúng sai, đâu là phải trái. Từ thuyết này ông mới đề ra một luận thuyết về bản tính thiện của con người.
Ông cho răng, tâm do trời sinh ra, mà trời vốn đức ngay thang, vì thê, con người mới sinh ra ai ai cũng được trời phú cho tâm ay. Tâm ay gôm 4 > “Chữ Tâm theo chữ giáp cốt rất giống hình trái tim, sau đó ngày càng biến đổi không giống nữa. ” Trích Tìm về nguồn cội chữ Hán, Lý Lạc Nghị, Nxb Thé giới, 1997 tr.623 13 thứ là Trắc ân chi tâm (fJBE-Z 2b) đó là lòng xót xa thương cảm; Tu 6 chỉ tâm (4238 Z Ly) là sự biết xấu hồ, biết ghét điều xấu; Từ nhượng chi tâm (BFA Z ity) là lòng biết khiêm tốn nhường nhịn; Thị phi chi tâm (5EZ ty) là sự biết phân biệt phải trái đúng sai. Tâm biết suy tư thì mới hiểu được cái lẽ của vạn vật (tư tắc đắc chi), thế nên tâm còn có một ý nghĩa rộng hơn đó là tâm tư.
Ý nghĩa thứ hai, Tâm là ý thức của chủ thể. Không Tử bàn về Tâm chỉ chú trọng đến đạo đức, cách hành xử đạo làm người, chính vì thế, trong Luận ngữ, Không Tử không bàn về Tâm với tư cách là bản thé đứng sau hiện tượng của tự nhiên và của xã hội. Ví dụ như Không Tử viết: “Quân tử thản đãng dang; tiêu nhân trường thích thích” [38, tr.182] ý nói người quân tử trong Tâm luôn thanh thoi phóng khoáng; kẻ tiêu nhân trong Tâm thường hay phải lo lắng. Câu này không hề có chữ Tâm nhưng nếu hiểu rộng nghĩa ra thì Không Tử đang so sánh cái Tâm của người quân tử và kẻ tiểu nhân, nhưng Tâm trong câu trên chỉ duy nhất trạng thái của cá nhân; hay như câu “Tịch bất chính, bất tọa” [38, tr.241] nghĩa là chiếu không thăng không ngồi, ý nghĩa là người nào trải chiếu câu thả thì tâm tính người đó cũng cầu thả, lệch lạc, người nào ngôi lên cái chiếu ấy tức là chấp nhận tâm tính cầu thả kia mà cũng chịu ảnh hưởng theo.
Ở đây ta hiểu rằng, Không Tử thông qua hành động dé có thể đánh giá được tâm tính của người khác, nhưng dẫu sao vẫn chỉ ám chỉ đến vấn đề về đạo đức cá nhân. Còn những vấn đề như xã hội, tự nhiên thì Không Tử không bàn đến Tâm. Trái ngược với Không Tử, Mạnh Tử có ý tìm bản thể Tâm ở những vấn đề về tự nhiên và xã hội trong thiên Tận Tâm Thượng. Ông viết: “Tan ky tâm giả, tri kỳ tính dã.
Tri ky tính, tắc tri thiên hỹ” [38, tr. Ý của ông là thực hành đến cùng Tâm của mình thì biết được bản tính tự nhiên của mình. Biết được bản tính tự nhiên của mình thì biết được Trời.