phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm hai chương, năm tiết 6 z CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH QUAN NIỆM ĐẠO ĐỨC HỌC TRONG CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 1. Bối cảnh và nguồn gốc xã hội cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh Triết học hiện sinh là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh, triết học về thân phận con người. “Bất cứ khuynh hướng nào trong triết học hiện sinh đều là triết học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ. Theo Thiên chúa giáo hay không, triết học hiện sinh đều mang nặng tính bi đát của kinh nghiệm con người về định mệnh của mình” [18; 23] Trước Socrate, các nhà triết học thường chỉ chú ý vào các nghiên cứu vũ trụ, giới tự nhiên, các nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học cụ thể.
Họ mải mê với những lẽ huyền vi, với những gì cao siêu ở đâu đó mà bỏ quên con người. Từ Socrate với luận điểm nổi tiếng: “Con người hãy nhận thức chính bản thân mình” thì vấn đề con người cũng được các nhà triết học sau này quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, triết học truyền thống sau Socrate lại có xu hướng coi con người như là một thành phần của giới tự nhiên, của vũ trụ, nghĩa là đặt con người như một đối tượng khách quan, giống như mọi sự vật khác để tìm hiểu nghiên cứu. Các triết gia hiện sinh đã phân tích quan niệm này và khẳng định tồn tại của con người là một tồn tại đặc biệt, không giống như tồn tại của mọi sự vật khách quan khác, tồn tại của con người là tồn tại hiện sinh.
Vậy là, các nhà hiện sinh đã suy nghĩ, nghiên cứu con người theo một hướng khác, theo một tinh thần khác, họ suy nghĩ về ý nghĩa cuộc sống và quan niệm về cái chết của con người. Có thể nói, triết học hiện sinh là đặc trưng cho trạng thái tinh thần của xã hội tư sản trong thời kỳ tổng khủng hoảng của chủ nghĩa Tư bản, nó thể hiện 7 z tâm trạng bi quan của con người đối với thực tiễn xã hội. Theo nhận xét của một nhà triết học Cộng hoà liên bang Đức: “Triết học hiện sinh thể hiện tâm trạng chung của thời đại. Tâm trạng suy sụp, vô nghĩa, không lối thoát của tất cả những gì đang diễn ra.
Triết học hiện sinh- đó là triết học của một sự cáo chung về cơ bản” [trích theo: 7; 11] Thật vậy, hai cuộc đại chiến khốc liệt là bối cảnh xã hội với tính cách là điều kiện cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh. Cuộc đại chiến thế giới lần thứ I năm 1914 và đặc biệt sự tàn khốc, dã man của cuộc đại chiến thế giới lần thứ II đã cuốn hút châu Âu vào những cuộc chém giết liên miên, làm cho dân chúng, đặc biệt tầng lớp thanh niên cảm thấy mình như những con số vô danh, như những tấm thẻ vô hồn. Chính những biến cố lớn lao này trong xã hội đã làm đã làm ý thức xã hội thay đổi sâu sắc. Con người bắt đầu ưu tư, lo lắng mất niềm tin hy vọng vào những gì là tốt đẹp.
Cơ cấu xã hội của người dân châu Âu bị đảo lộn về mọi mặt. Chính trị, pháp luật, tôn giáo. đều bị con người nghi ngờ về những giá trị của nó. Con người sống trong chán nản, buồn bã, lo âu và thấy cuộc sống thật vô nghĩa, phi lý, “buồn nôn”.
Trong bối cảnh cảnh xã hội đó, chủ nghĩa hiện sinh cũng như quan niệm đạo đức học của nó đã xuất hiện. Có ý kiến cho rằng, cuộc chiến tranh thế giới chính là nguồn gốc hình thành chủ nghĩa hiện sinh nên chủ nghĩa hiện sinh thấm đượm mầu sắc bi quan, thất vọng. nhưng có người lại đặt câu hỏi nếu không có chiến tranh liệu chủ nghĩa hiện sinh có xuất hiện hay không? Thực ra, người ta không thể khẳng định rằng khi con người sống trong xã hội không còn nguy cơ chiến tranh, không còn chế độ áp bức bóc lột thì con người sẽ hết bi quan, buồn phiền, lo âu, con người sẽ không phải trăn trở về đời sống, về thân phận của mình nữa. 8 z Ra đời trong bối cảnh xã hội với những cuộc chiến tranh tàn khốc xảy ra liên tiếp, chủ nghĩa hiện sinh còn là sự phản ứng đối với chủ nghĩa duy lý thống trị trong xã hội phương Tây.
Chủ nghĩa duy lý đã khuyếch trương rằng khoa học là vạn năng, khoa học có thể giải đáp tất cả vấn đề nhân sinh. Theo trường phái này, dưới ánh sáng của khoa học kỹ thuật, con người sẽ được thỏa mãn về mọi phương diện tinh thần cũng như vật chất. Lý trí khoa học được đề cao là chiếc đũa thần và sẽ giải quyết được mọi vấn đề, mang lại hạnh phúc cho nhân loại nhờ khả năng bất tận của nó. Comte cho rằng, lịch sử nhân loại có lẽ sẽ chấm dứt ở thời đại đế quốc khoa học, vì với khoa học mọi cái sẽ không còn bí ẩn nữa.
Người ta sẽ hiểu rõ quá khứ, hiện tại, tương lai của đời sống thiên nhiên, đời sống xã hội, đời sống con người như trong lòng bàn tay vậy Tuy nhiên, lịch sử đã không chứng tỏ điều này. Lý trí khoa học đã nhìn con người như một hiện tượng vật lý, nó đã phủ nhận vai trò của con người trong việc thẩm định, đánh giá các giá trị. Chủ nghĩa duy lý đã gây nên sự khủng hoảng, sự bại hoại về tinh thần trong xã hội phương Tây hiện đại. Theo cách nói của Mác, xã hội duy lý hoá ở phương Tây đã làm cho con người chỉ còn là một “lực lượng vật chất đơn thuần”.
Con người trở thành bần cùng và kiệt quệ trong bộ máy kỹ thuật khổng lồ của xã hội hiện đại. Một xã hội phương Tây giầu có về mặt vật chất nhưng dường như lại nghèo về văn hoá tinh thần, kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng đạo đức, văn hoá dường như lại trở nên suy đồi. Trong xã hội như vậy, con người suy sụp, lo âu, sợ hãi. là điều dễ hiểu.
Nếu triết học duy lý coi khoa học là chiếc đũa thần vạn năng có thể giải quyết được mọi vấn đề, thì đối lập với nó là khuynh hướng triết học nghi ngờ vào khả năng của khoa học kỹ thuật, khuynh hướng này hạ thấp, thậm chí chống lại tư duy duy lý. Nhìn thấy những giới hạn của tư duy duy lý, của trí tuệ 9 z con người, các triết gia theo khuynh hướng này cho rằng tư duy duy lý, khoa học không phải lúc nào cũng thấu hiểu, giải quyết được mọi vấn đề. Đã có nhiều nhà triết học đi sâu tìm hiểu về nhận thức cảm tính, tư duy kinh nghiệm, phương pháp nhận thức bằng trực giác, linh cảm. Ngay từ thế kỷ XVII, khi chủ nghĩa duy lý đã trở thành một khuynh hướng rất mạnh, Pascal đã tuyên bố một chân lý: con tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu nổi.
Ở Kant, việc đề cao tính nhân bản đã được xây dựng một cách sâu sắc, tuyệt vời. Đối với vấn đề khả năng nhận thức của con người, một mặt Kant đánh giá cao tư duy duy lý khoa học vì nó cho ta giá trị chắc chắn, mặt khác ông cho rằng phương pháp của khoa học thực nghiệm là hiệu nghiệm, tuyệt vời nhưng chỉ hiệu nghiệm, tuyệt vời khi dùng đúng chỗ. Điều này có nghĩa là, tư duy duy lý không phải là tất cả: „„lý trí cũng hạn hẹp, biết sao hết mọi nguyên lý của vũ trụ‟‟. Theo Kant, phán đoán suy luận tuy dựa vào tính chất chủ quan nhưng cũng có những giá trị nhất định vì với nhận thức khoa học, người ta cũng không thể hiểu hết được đời sống tâm linh, đời sống tình cảm.
Trên thực tế, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật bên cạnh những ưu điểm nó cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định. Khoa học kỹ thuật không đem lại lợi ích và hạnh phúc cho đông đảo quần chúng lao động. Tiến bộ của khoa học và kỹ thuật chỉ là công cụ bóc lột của giai cấp thống trị đối với người lao động, chứ không phải là công cụ để phát triển các giá trị nhân văn, cải thiện đời sống của đại đa số người lao động trong xã hội. “Người công nhân sản xuất ngày càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản xuất của anh ta ngày càng tăng thì anh ta lại ngày càng nghèo.
Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hoá, anh ta lại trở thành một hàng hoá càng rẻ mạt. công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta càng có ít để tiêu dùng, anh ta càng tạo ra nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng mất giá trị, càng bị mất phẩm cách, sản phẩm của anh ta càng 10 z đẹp thì anh ta càng xấu đi, vật do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man. Lao động càng mạnh mẽ thì người công nhân càng bất lực, lao động của anh ta càng có tinh thần thì anh ta càng mất hết trí óc và càng bị lệ thuộc vào giới tự nhiên [42; 110-113]. Thực chất của sự tha hoá cũng như nguyên nhân của nó đã được Mác chỉ ra trong tác phẩm bản thảo kinh tế triết học năm 1844.
Chủ nghĩa Mác cho rằng sự tha hoá trong xã hội tư bản là do nguyên nhân kinh tế – xã hội, do đó phải giải phóng lao động, làm cho lao động là một hoạt động sáng tạo, là một nhu cầu tất yếu của con người chứ không phải là một hoạt động bị cưỡng bức. Chủ nghĩa hiện sinh đã thừa nhận xã hội tư bản đang bị huỷ hoại, bị suy sụp, bị tha hoá, nhưng khác với quan niệm này, chủ nghĩa hiện sinh coi nguyên nhân sâu xa của tình trạng tha hoá, xuống cấp trong xã hội tư bản là một hiện tượng phụ thuộc bản chất của mọi xã hội, là kết quả tất yếu của nền văn minh nhân loại, từ khoa học kỹ thuật. Chủ nghĩa hiện sinh nhận thấy mặt trái của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Heidegger cho rằng, sự lạc quan tin tưởng vào khả năng chinh phục và thống trị giới tự nhiên của con người chỉ là ảo tưởng và vô cùng nguy hiểm.
Theo ông, hiểm hoạ chết người không phải là bom nguyên tử, mà là sự tin tưởng của con người vào khả năng của nó có thể nhận thức, cải tạo, điều khiển và chinh phục thế giới, để làm cho cuộc sống của mọi người đều được hạnh phúc [xem 7;16]. Bên cạnh đó, phải kể đến phương pháp nhận thức con người.