mở đầu việc khám phá rằng nhiệt, khai sáng, điện và tính muôn vẻ của thế giới đều là những hình thức khác nhau của tồn tại vật chất. Khoa học về điện đã chứng minh bản chất của dòng điện là sự tương tác giữa dòng điện - và dòng điện dương để tạo ra dòng điện thống nhất. Cùng với phát hiện hiện tượng điện phân (quá trình điện và quá trình hóa có mối liên hệ chặt chẽ) là việc khám hiện ra tế bào của Antonie Philips van Leeuwenhoek- nhà khoa học người Hà Lan. Các phát minh của khoa học tự nhiên, một cách ngẫu nhiên, lại càng chứng tỏ tính chất biện chứng vốn có của thế giới, nó chỉ ra rằng mọi sự vật hiện tượng, quá trình trong thế giới không những vận động không ngừng mà còn luôn liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau.
Thực tế đó đòi hỏi một cách nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên, thôi thúc phương pháp tư duy biện chứng ra đời thay thế cho phương pháp siêu hình của thời kỳ trước [Xem: 121, tr. Chính những thành tựu khoa học tự nhiên này đã góp phần không nhỏ cho I. Kant tiến hành cuộc cách mạng Copernicus trong triết học. “Học thuyết phạm trù trong triết học I.
Kant” của Lê Công Sự [100] Trong công trình này, tác giả lại có cách tiếp cận vấn đề này dưới góc độ khái lược lịch sử phát triển lâu dài của khoa học tự nhiên từ thời cổ đại với hàng loạt đóng góp quan trọng của các nhà triết học tự nhiên như: Định lý về tam giác vuông của Pitago, các tiên đề về hình học phẳng của Euclid … Thời kỳ Phục hưng - 12 Cận đại, tác giả đề cập đến những ảnh hưởng của các phát minh như: Thuyết Nhật tâm của N. Copernicus, hệ tọa độ trong toán học của R. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích và chỉ ra những tác động, ảnh hưởng của những phát minh trên tới sự hình thành triết học I. Kant nói chung và quan niệm của I.
Kant về chủ thể tiên nghiệm nói riêng: “Những thành tựu mà khoa học tự nhiên đạt được đã đem đến cho I. Kant quan niệm mới về sức mạnh và khả năng trí tuệ cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới” [100, tr. “Đạo đức học I. Kant và những giá trị, hạn chế của nó” của Vũ Thị Thu Lan [61] Trong công trình này, tác giả chủ yếu trình bày về ảnh hưởng và ý nghĩa của Thuyết nhật tâm do nhà bác học N.
Copernicus, những tri thức khoa học tự nhiên của I.Newton, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của nhà bác học M.Lomonosov và những chứng minh hóa học bác bỏ quan niệm về sự tồn tại của một loại vật chất đặc biệt: chất cháy không trọng lượng (Flogiston) của nhà hóa học người Pháp A.Lavoisei, phát minh về cấu tạo của nguyên tố hóa học của Dunton. đến triết học đương thời trong đó có triết học I. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh những ảnh hưởng quan trọng mà các thành tựu khoa học tự nhiên kể trên đối với I. Kant khi ông thực hiện cuộc cách mạng Copernicus mang tính chất bước ngoặt trong triết học ở phương diện đòi hỏi một phương pháp nhận thức mới cho con người trong việc nghiên cứu về thế giới cả về tự nhiên và xã hội.
* Những công trình nghiên cứu về tiền đề tư tưởng cho sự hình thành quan niệm về chủ thể tiên nghiệm trong triết học I. Kant “Lịch sử triết học phương Tây” của Nguyễn Tiến Dũng [18] Đây là một công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về lịch sử triết học phương Tây từ cổ đại tới triết học cổ điển Đức. Mỗi tác giả được trình bày riêng rẽ, nhưng người đọc vẫn nhìn thấy được một hệ thống xuyên suốt và sự kế thừa lẫn nhau giữa các triết gia. Do vậy tác giả luận án có thể dễ dàng hiểu được tiền đề lý luận đã hình thành nên quan niệm về chủ thể tiên nghiệm trong triết học I.
“Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII-XIV - Triết học Imanuin Cantơ (I. Kant)” của Nguyễn Văn Huyên [46] Tác giả chỉ giới thiệu chứ không đi sâu vào phân tích những tư tưởng của các nhà triết học tiền bối của triết học cổ điển Đức như: nhà triết học - toán học người Pháp - R. Descartes, nhà vật lý học người Anh I. Newton, các nhà triết học Đức - G.
“Triết học cổ điển Đức” của Lê Công Sự [101] Cuốn sách nghiên cứu ba triết gia lớn của triết học cổ điển Đức: I. Kant, 13 Hegel, Feuerbach. Kant đóng vai trò là “thủy tổ” của dòng triết học này. Công trình được trình bày khá ngắn gọn nhưng rất sâu sắc về các vấn đề cơ bản trong triết học của I.
Kant, làm rõ những khám phá mới độc đáo cũng như những hạn chế của nhà triết học này trên các mặt: triết học lý luận, triết học thực tiễn, triết học về con người, nhân bản học. “Vấn đề bản thể luận trong Triết học duy tâm cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX” của Nguyễn Chí Hiếu [34] Khác với tác giả Nguyễn Văn Huyên, trong công trình này, Nguyễn Chí Hiếu đã dành dung lượng khá lớn (19 trang từ 45 - 63) để phân tích những tiền đề tư tưởng quan trọng cho sự hình thành triết học cổ điển Đức nói chung, triết học I. Kant nói riêng trong đó có quan niệm của ông về chủ thể tiên nghiệm. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của chủ nghĩa duy lý R.
Descartes, đơn tử luận G. Leibnitz và bản thể luận C. Wolff, trong đó tác giả đã luận giải khá kỹ lưỡng mệnh đề Cogito, ergo sum của Descartes. Bên cạnh những nhận định nói trên, trong công trình Chủ thể nhận thức trong triết học của I.
Kant và ý nghĩa hiện thời của nó” [23], tác giả Nguyễn Vân Hạnh cũng đã phân tích rất chi tiết những tiền đề tư tưởng triết học có ảnh hưởng đến Triết học I. Kant như: ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý R. Descartes, những tư tưởng triết học của C. Ngoài ra, căn cứ vào mục đích nghiên cứu của mình, tác giả còn phân tích thêm ảnh hưởng của tư tưởng triết học D.
Hume, triết học Khai sáng Pháp, học thuyết chính trị - xã hội của J. đối với sự hình thành triết học I. Tác giả nhận định rằng: “I. Kant đã tiếp thu quan điểm duy lý - quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của lý tính từ R.
Descartes; niềm tin vào sức mạnh của tư duy, sự cần thiết sử dụng lý tính, nguyên tắc duy lý từ C. Wolff; lập trường đề cao địa vị xã hội của khoa học và giáo dục, tri thức; tư tưởng về tự do của triết học Khai sáng Pháp, tư tưởng chính trị - xã hội của J. Rousseau; chủ nghĩa hoài nghi của D. Tất cả những thành tựu triết học đó được I.
Kant sử dụng để hình thành quan điểm triết học lịch sử của mình” [23, tr. Trong “Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của I. Kant” của Khuất Duy Dũng [17], tác giả lại chủ yếu đi vào làm rõ ảnh hưởng của bối cảnh phát triển văn hóa và triết học cận đại, biểu thị những đặc điểm của một chặng đường phát triển tinh thần và văn hóa của Tây Âu đến triết học I. Tác giả cho rằng, triết học I.
Kant có mối liên hệ nội tại và chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa châu Âu thời Cận đại nhất là phong trào Khai sáng đại diện tiêu biểu là Jean - Jacques Rousseau (1712 -1778). Tác động của phong trào Khai sáng vượt ra khỏi khuôn khổ 14 của thời đại mà các nhà Khai sáng hoạt động, minh chứng rõ nét là toàn bộ thế kỷ XIX đã diễn ra dưới các khẩu hiệu khải hoàn của những tư tưởng Khai sáng. Các nhà Khai sáng coi sự phổ biến tri thức, khoa học và giáo dục là phương tiện cơ bản để hoàn thiện con người và xã hội. Tác giả cũng nhận định rất rõ quan niệm về bản thân văn hóa như là giới tự nhiên thứ hai (giới tự nhiên mới do con người sáng tạo ra) cũng quan trọng như giới tự nhiên thứ nhất.
Đồng thời, tác giả cũng khẳng định: nếu như văn hoá cổ đại và trung cổ hình thành theo nguyên tắc thích nghi với tự nhiên, thì văn hoá cận đại hình thành trên nguyên tắc sáng tạo tự nhiên. Chính nguyên tắc này có tác dụng định hướng thường xuyên hoạt động của con người vào việc tạo cái mới, đồng thời giúp con người tích lũy những sản phẩm vật chất và tinh thần ngày càng nhiều hơn. Do đó, có thể thấy rằng văn hóa Tây Âu thời kỳ Cận đại đã đi đầu trong việc đề cao tính tích cực cũng như sức mạnh sáng tạo văn hóa của con người với tư cách là chủ thể. Và như vậy, chính sự phát triển nội tại của văn hóa châu Âu thời kỳ Cận đại đã quy định thái độ phê phán của nó đối với các thời đại trước.
Ở thời Cận đại, việc phê phán tư tưởng thời trung cổ bằng bầu nhiệt huyết của lý tính thể hiện ở hai mặt: Một mặt, thời Trung cổ được coi là thời đại đen tối và cuồng tín tôn giáo. Vì vậy, không ít thành tựu của văn hóa trung cổ đã bị loại bỏ. Mặt khác, văn hóa cận đại vẫn chịu sự tác động của xu hướng tự phê phán dựa trên việc giữ lại những mối liên hệ với quá khứ mà triết học I. Kant là ví dụ điển hình cho xu hướng này.
Cách tiếp cận trên cũng được thể hiện trong công trình “Quan niệm của I. Kant về “vật tự nó” của Nguyễn Thị Hải Yến [122]. Các công trình nghiên cứu về triết học I. Kant và quan niệm của I.
Kant về chủ thể tiên nghiệm 1. Các nghiên cứu về triết học I. Kant Như đã nói ở trên, việc giảng dạy triết học I. Kant ở Việt Nam đã được đưa vào chương trình từ bậc đại học và sau đại học.
Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu triết học I. Kant đã thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Trước năm 1975, chúng ta thấy có một số tác giả đề cập đến I. Kant - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức.
Công trình mang tên “Triết học I. Kant” của Nguyễn Đình Thi (Nxb Tân Việt xuất bản, năm 1942) có lẽ là tài liệu sớm nhất ở Việt Nam đã trình bày triết học I. Kant dưới dạng phổ thông. Trong tác phẩm này các tư tưởng triết học của I.
Kant như nhận thức luận, cái tiên nghiệm, vật tự nó, thuyết hai thế giới… mới được trình bày một cách khái quát.