mở đầu cho thời kỳ xây dựng và phát triển một khoa học mới mẻ mà Comte gọi là xã hội học hay vật lý học xã hội. Quan niệm về cơ cấu của xã hội học, theo Comte thì xã hội học nghiên cứu các hệ thong xã hội trên hai cấp độ: Các điều kiện tồn tại, các quy luật hoạt động của chúng (tinh thái xã hội) được nghiên cứu trên một cấp độ; Các xu hướng, tính tuần tự của các thang bậc phát triển xã hội (động thải xã hội) — trên cấp độ khác. Tĩnh học xã hội là bộ phận xã hội học nghiên cứu về trật tự xã hội, cơ cấu xã hội, các thành phần và các mối liên hệ của chúng. Lúc đầu, Comte nghiên cứu các cá nhân với tư cách là những thành phần hay đơn vị cấu thành của cơ cấu xã hội.
Comte xem cá nhân với tư cách là một tập hợp, một hệ thống gồm: Các năng lực và nhu cầu đã có sẵn bên trong cá nhân và các nhu cầu, năng lực được tiếp thu từ bên ngoài qua quá trình cá nhân tham gia vào xã hội. Sau đó, quan niệm xã hội cua Comte thay đôi, ông cho rằng ca nhân không phải là "đơn vị xã hội đích thực". Comte coi nghiên cứu về cá nhân là nghiên cứu thuộc về lĩnh vực sinh vật học, khác hắn với nghiên cứu xã hội học chủ yêu phân tích các "đơn vi xã hội". Đơn vi xã hội cơ bản nhât, sơ đăng 15 nhất có mặt trong tất cả các đơn vị xã hội khác là "gia đình".
Điều thực sự có ý nghĩa về ly luận xã hội học là quan niệm cua Comte về cơ cấu xã hội. Cơ cầu xã hội bao giờ cũng được tạo nên từ các cơ cau xã hội khác don giản hơn, gọi là tiểu cơ cau xã hội. Do đó, hiểu cơ cấu xã hội có nghĩa là năm bắt được các đặc điểm, các thuộc tinh va các mối liên hệ của các tiêu cơ cau xã hội. Cơ cau xã hội phát triển theo con đường tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở mức độ phân hóa, đa dạng hóa và chuyên môn hóa chức năng, cũng như mức độ liên kết giữa các tiêu cơ cau xã hội. Comte đặt van đề nghiên cứu xem làm thé nào duy trì được mối liên kết giữa các bộ phận (các tiểu cơ cấu xã hội) khi mức độ phân hóa chức năng ngày một tăng lên trong xã hội. Comte đưa ra cách giải quyết nhắn mạnh tới vai trò của nhà nước và yếu tố văn hóa, tinh thần xã hội. Vai trò của nhà nước: Comte cho rằng ngoài sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tập trung quyền lực vào tay nhà nước cho phép điều hòa, phối hợp và liên kết các bộ phận của hệ thống xã hội đảm bảo chống lại sức ép của sự phân hóa và phân rã xã hội.
Vai trò của văn hóa, tỉnh thần: Ngoài hành động "vật chất" của nhà nước, yếu tố trí tuệ và đạo đức, thiện trí và thiện cảm của các thành viên xã hội, đóng vai trò là nhân tố duy trì sự liên kết, trật tự xã hội. Động học xã hội là nghiên cứu các quy luật biến đổi xã hội trong các hệ thống xã hội theo thời gian. Comte đưa ra học thuyết về ba giai đoạn, với tu cách là một bộ phận của xã hội học, có liên hệ động thái xã hội đó là: 1. Hệ thống than học, hay hư ảo; 2.
Hệ thống siêu hình, hay trừu tượng; 3. Hệ thống khoa học, hay thực chứng. Theo quy luật ba giai đoạn, mỗi giai đoạn trước là điều kiện phát triển của mỗi giai đoạn sau. Vi dụ, nếu không có hệ thống dòng họ thì khó có thé phát triển các hệ thống tiếp theo như hệ thống chính trị, luật pháp, quân đội và 16 hệ thống xã hội công nghiệp hiện đại.
Lịch sử tiễn hóa xã hội diễn ra theo con đường tích lũy, tiến hóa (các tư tưởng mới, các hệ thống cơ cầu mới được xây dựng, được bô sung vào cái cũ); ví dụ, trong xã hội hiện đại, dòng họ không mất đi, cũng như các tư tưởng thần bí, siêu tự nhiên không hoàn toàn bị biến mất. Việc biến đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác không "trôi chảy, nhẹ nhàng", mà thường trải qua thời kỳ bất 6n định, mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới. Comte cho rằng, hệ thống văn hóa bao gồm đạo đức và tinh thần quy định sự phát triển của hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội. Dựa vào quy luật ba giai đoạn, Comte cho rằng việc "xã hội học" ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiễn hóa là một tất yếu lịch sử; và xã hội học là khoa học đứng trên tất cả các khoa học khác.
Xã hội học ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiễn hóa - giai đoạn thực chứng và đó là khoa học phức tạp nhất, phải dựa trên nền tảng khoa học khác. Vì ra đời muộn nên xã hội học ngay lập tức đã phải là một khoa học thực chứng và chiếm vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc các khoa học. Như vậy, Comte là người đầu tiên chỉ ra nhu cầu và bản chất của một khoa học về các quy luật tô chức xã hội. Comte cho rằng bản chất của xã hội học là ở chỗ sử dụng các phương pháp khoa học để xây dựng lý thuyết và kiêm chứng giả thuyết.
Quan điểm như vậy của Comte về chủ nghĩa thực chứng khác hăn với quan niệm của một số nhà nghiên cứu thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Comte đã chỉ ra được các nhiệm vụ và vấn đề cơ bản của xã hội học. Xã hội học có nhiệm vụ phát hiện ra các quy luật, xây dựng lý thuyết, nghiên cứu cơ cấu xã hội (tinh học xã hoi) và nghiên cứu quá trình xã hội (động học xã hội). Quan điểm của Comte về tĩnh học xã hội và động học xã hội là tiền đề cho Popper phân biệt hai khái niệm “xu thế” và “định luật”.
Cũng từ quan điểm này ông phê phán Comte “Khi nói đến những định luật nối tiếp nhau, 17 Comte nghĩ đến những định luật về một loạt những hiện tượng “động lực học” xảy ra theo trình tự chúng ta quan sát được. Thế nhưng điều quan trọng là phải nhận thấy răng những định luật “động lực học” về sự nối tiếp nhau như Comte quan niệm là không hề tồn tại. Trong động lực học chắc chắn là không tìm thấy những định luật như thế” [30, tr. Popper phủ nhận những định luật mà theo Comte đó là nhiệm vụ của xã hội học, những “định luật” đó theo Popper chỉ là những “xu thế”.
Day cũng là điểm mau chốt dé Popper phê phán các nhà sử luận. Hai là, tư tưởng triết học thực chứng của J.MiII là đại biểu của chủ nghĩa thực chứng xã hội học, đồng thời là nhà kinh tế học, nhà hoạt động xã hội người Anh. Mặc dù không làm việc tại Hàn lâm viện mà làm việc tại Công ty Osthindu, nhưng MIII vẫn luôn tích cực hoạt động khoa học, triết học và chính trị học từ những năm 40 của thế kỷ XX. Khoảng thời gian 1823 - 1858 Mill hoạt động kinh doanh, tranh thủ làm quen với các tác phẩm của Saint - Simon, nhưng không tán thành quan điểm của nhà cộng sản không tưởng này về quyết định luận xã hội trong hoạt động của con người.
Ông luôn ủng hộ chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cải cách. Mill tán thành rất nhiều quan điểm triết học và logic học của Comte, đặc biệt là quan niệm của Comte về tri thức khoa học và thái độ của ông ta đối với triết học, việc phân biệt giữa tĩnh thái và động thái xã hội, cũng như học thuyết “ba giai đoạn”, xem xét giai đoạn thực chứng như là trạng thái tối cao của xã hội loài người. Tuy nhiên, Mill lại bác bỏ học thuyết chính trị, xã hội của Comte hau kỳ, phát hiện ở đó hiện thân của chủ nghĩa độc tài chính tri và tinh thần, xem nhẹ tự do và tinh cá thé của con người. Mill cho rang can dành cho con người khoảng không tự do, thay vì quang lên cổ nó một thứ định mệnh luận xã hội nhân tạo nào đó.
Tư tưởng chống đối này được MIII trình bày trong “A. Comte va chủ nghĩa thực chứng” (1865). 18 Các tác phẩm chính của Mill bao gồm hai tập “Hé thống logic học” (1843); “Chu nghĩa vị lợi (1863) và “Nghiên cứu triết học của ngài M. Học thuyết về phương pháp luận khoa học của Mill bao gồm: Phương pháp quy nạp, logic học và học thuyết về tính nhân quả.
Học thuyết vé quy nạp được coi là lý thuyết câu thành cơ sở của học thuyết về phương pháp luận của Mill. Phép quy nạp của Mill thực chat là sự kế thừa và phát triển phương pháp quy nạp khoa học do F. Bacon xây dựng trong điều kiện khoa học thực nghiệm đương đại. Mill đã hoàn thiện các thủ thuật quy nạp của Bacon.
Mill bat đầu xem xét chúng như là các thủ thuật nghiên cứu chuyền biến các giả thuyết thành các định luật về quan hệ nhân quả. Có năm phương pháp như vậy đó là: phương pháp giống nhau duy nhất; phương pháp khác biệt duy nhất; phương pháp hợp nhất sự giống nhau và sự khác biệt; phương pháp những phan còn lại; phương pháp những sự biến đổi di liền nhau. Logic học của Mill chính là logic học nghiên cứu khoa học, trọng tâm của nó được đặt vào các thủ thuật quy nạp. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là loại bỏ các thủ thuật diễn dịch, ông chỉ phê phán sự đề cao thái quá phép diễn dịch và các mệnh đề duy lý, nhưng thừa nhận tác dụng của nó trong nhận thức khoa học.
Mill nghiên cứu tỉ mỉ và đánh giá cao tam đoạn luận, nhấn mạnh tam quan trọng của việc trình bày chính xác tri thức nhận được theo con đường quy nạp. Song kết luận bằng tam đoạn luận không thể trở thành cái chủ yếu trong khoa học và do vậy chỉ có ý nghĩa kỹ thuật đối với nhà khoa học. Học thuyết về tính nhân quả, Mill xem xét tính nhân quả như là mối liên hệ tương đối ôn định giữa những cảm giác, như là tính tuần tự bền vững giữa những hiện tượng, như là cái đem lại khả năng tiên đoán những sự kiện tương lai. Năng lực tiên đoán như vậy, theo Mill cần được tính đến khi xây 19 dựng logic học của các khoa học tinh thần.
Nguyên nhân được xác định là tổng thể mọi hiện tượng (hay những điều kiện cần thiết của chúng) tồn tại trước một hiện tượng nao đó. Như vậy, nguyên nhân là tổng thể hiện tượng trong thế giới.