phần mở đầu và kết luận, danh mục tài, mục lục, phụ lục, nội dung luận văn gồm các chƣơng sau: hƣơng 1: ơ sở lý luận và tổng quan truyền hình thực tế tại Việt Nam hiện nay hƣơng 1 của luận văn đƣa ra những lý thuyết cơ bản về công chúng, công chúng truyền hình, công chúng sinh viên. hƣơng 2: Thực trạng tiếp nhận các chƣơng trình truyền hình thực tế của công chúng trẻ TP. 15 hƣơng 2 trình bày các kết quả của cuộc điều tra tiến hành tháng 11/2014 về việc tiếp nhận các chƣơng trình truyền hình thực tế của công chúng trẻ TP. hƣơng 3: Một số nhận xét bƣớc đầu và giải.
hƣơng 3 tóm lƣợc lại các kết quả đã nêu tại chƣơng 2, từ đó, đƣa ra các nhận định, đánh giá và đề xuất giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả tiếp nhận các chƣơng trình truyền hình thực tế của công chúng trẻ TP. 16 CHƯ NG : C SỞ LÝ LU N VÀ TỔNG QUAN TRUY N HÌNH TH C T TẠI VI T NAM HI N NAY 1. Công chúng và công chúng truyền thông đại chúng 1. Khái niệm Công chúng với nghĩa là một danh từ để chỉ một tập hợp xã hội đƣợc cấu thành một cách phức tạp bởi nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, mỗi ngƣời đều đang sống trong những mạng lƣới xã hội và những mối quan hệ xã hội nhất định.
Khi nghiên cứu về công chúng của một phƣơng tiện thông tin đại chúng, thì không thể tách rời những độc giả hay khán giả ra khỏi môi trƣờng sống của họ, mà ngƣợc lại, phải đặt họ vào trong các hoàncảnh sống cũng nhƣ các mối quan hệ xã hội của họ. Trong những nghiên cứu về truyền thông đại chúng ở giai đoạn trƣớc, khi chƣa có những bƣớc đột phá về công nghệ truyền thông số hoá, công chúng truyền thông đại chúng là khái niệm dùng để chỉ đối tƣợng tác động của hoạt động truyền thông đại chúng, bao gồm độc giả, khán giả, thính giả của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng nhƣ báo chí in, truyền hình hay phát thanh. Trong mối tƣơng quan giữa các yếu tố trong quá trình truyền thông đại chúng truyền thống thì công chúng chính là đối tƣợng tiếp nhận, đối tƣợng tác động của truyền thông đại chúng. Theo quan điểm của nhà xã hội học Herbert Blumer [37, tr.
15 - 21], công chúng (của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng truyền thống) có những đặc điểm cơ bản như sau: - Bao gồm những ngƣời thuộc mọi tầng lớp xã hội, bất kể giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị, trình độ học vấn… Họ có những đặc trƣng dị biệt. - Công chúng truyền thông đại chúng thƣờng là những cá nhân nặc danh. Khi một hoạt động truyền thông hƣớng tới đại chúng, chúng ta không thể biết rõ đối tƣợng tiếp nhận cụ thể là ai. Một thông điệp trong quá trình truyền thông đại chúng có thể tiếp cận bất cứ ai.
17 - Các thành viên của đại chúng thƣờng cô lập nhau xét về mặt không gian, ít có sự tƣơng tác. - Công chúng truyền thông đại chúng không có tổ chức hoặc nếu có thì rất lỏng lẻo. Bởi vậy, họ thƣờng rất khó tiến hành những hoạt động chung. Đặc điểm tâm lý tiếp nhận truyền thông của công chúng Thông thƣờng, chúng ta nghiên cứu tâm lý của công chúng truyền thông thông qua sự phát triển của các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
Francis Balle [17, tr. 18] đã nhận diện ra ba giai đoạn chính - nơi tập trung tập quán và thái độ của công chúngmỗi khi có một phƣơng tiện truyền thông mới ra đời: - Giai đoạn mê mẩn: khi phƣơng tiện truyền thông vừa chào đời, công chúng thƣờng tỏ ra rất hào hứng, phấn khích. - Giai đoạn bão hòa: công chúng bắt đầu chán vì đã theo dõi quá nhiều. - Giai đoạn trưởng thành: việc theo dõi phƣơng tiện truyền thông này đã đi vào tập quán trong nếp sống hàng ngày của họ.
Lúc này họ bình tĩnh trở lại và sử dụng phƣơng tiện này một cách hợp lý hơn, công chúng biết phê bình nội dung chƣơng trình này hay đề mục khác, biết chọn lọc những cái cần xem, và khôi phục lại những tập quán cũ đã có từ trƣớc trong việc sử dụng ngân sách thời gian. Tương ứng với 3 giai đoạn miêu tả tâm lý, thái độ của công chúng đối với các phương tiện truyền thông(giai đoạn mê mẩn, giai đoạn bão hòa, giai đoạn trưởng thành) là 3 giai đoạn phát triển của các lý thuyếttruyền thông [40, tr. 16-28]: Giai đoạn thứ nhất: bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX cho tới cuối thập niên 1930, là giai đoạn mà giới học thuật quan niệm rằng các phương tiện truyền thông có một sức tác động to lớn lên lối ứng xử và suy nghĩcủa người dân. Giai đoạn phát triển thứ hai trong quá trình nghiên cứu về truyền thông đại chúng là từ khoảng năm 1940 tới đầu những năm 1960.
ặc điểm của giai đoạn này là bắt đầu xuất hiện quan điểm đánh giá bớt bi quan hơn về vai trò của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng và khả năng nhận thức của công chúng. 18 Giai đoạn thứ ba trong lịch sử nghiên cứu về truyền thông đại chúng bắt đầu từ khoảng thập niên 1960 đến khi internet xuất hiện, với đặc điểm là xuất hiện nhiều xu hƣớng quan điểm nghiên cứu khác nhau, và rất nhiều đề tài đa dạng. Chẳng hạn nhƣ ngoài việc nghiên cứu về công chúng và về tác động của truyền thông đại chúng, ngƣời ta còn nghiên cứu về nội dung các thông điệp của truyền thông đại chúng, về quá trình truyền thông đại chúng, quá trình sản xuất của các phƣơng tiện truyền thông, nghiên cứu về đặc điểm của các nhà truyền thông và hoạt động của họ. Tƣơng ứng với 3 giai đoạn nghiên cứu truyền thông chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua về 3 lý thuyết ứng với ba giai đoạn đó để nhìn nhận rõ hơn vai trò của khán giả khi tiếp nhận thông điệp truyền thông.
Một là “Lý thuyết mũi im tiêm” (hypo ermic nee le theory) - ứng với gi i đoạn một của nghiên cứu truyền thông: Lý thuyết này cho rằng khángiả tiếp nhận thông tin từ các phƣơng tiện truyền thông đại chúng một cách thụ động, họ không có bất kỳ nỗ lực nào để xử lý hoặc đòi hỏi từ các dữ liệu. Về cơ bản, phƣơng pháp mũi kim tiêm khẳng định: những thông tin từ một văn bản đi vào ý thức của khán giả một cách trực tiếp, tức là kinh nghiệm, trí thông minh và ý kiến của một cá nhân không liên quan đến việc tiếp nhận văn bản. Hai là “Lý thuyết truyền thông h i gi i đoạn” (Two step flow theory)- ứng với gi i đoạn hai của nghiên cứu truyền thông: Các cuộc điều tra đã chứng minh rằng ngƣời dân thƣờng không chịu ảnh hƣởng từ truyền thông đại chúng một cách trực tiếp, nhƣ một “mũi kim chích", mà thƣờng là gián tiếp thông qua việc trao đổi, hỏi han với những ngƣời có uy tín trong các nhóm xã hội của họ, và lối suy nghĩ cũng nhƣ chính kiến của họ thƣờng đƣợc xác lập thông qua những cuộc trò chuyện, giao tiếp mang tính chất liên cá nhân đó. Ba là “Lý thuyết công chúng chủ động” (Active u ience theory) – ứng với gi i đoạn nghiên cứu thứ ba của lý thuyết truyền thông: 19 Lý thuyết công chúng chủ động là một lý thuyết chỉ ra rằng: công chúng tiếp nhận và giải thích các thông điệp truyền thông theo nhiều cách khác nhau.
Sự khác nhau này thƣờng là do sự ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ tuổi tác, sắc tộc, tầng lớp xã hội… Khán giả không phải là thụ động nhƣng cũng không đồng nhất. Năm 1980, David Morley đã làm một nghiên cứu xem làm thế nào khán giả tiếp nhận và giải thích một chƣơng trình truyền hình: chƣơng trình “Toàn quốc” (Nationwide). Ông phát hiện thấy nói chung có ba cách tiếp nhận: - Đối lập: ngƣời xem không đồng ý với thông điệp truyền thông đƣợc đƣa ra và từ chối nó. - Th ng l ợng: Nhìn chung, ngƣời xem có đồng ý với thông điệp đƣợc đƣa ra nhƣng quan điểm cũng nhƣ hành động của họ chỉ có một chút thay đổi.
- Chi phối : các thông điệp truyền thông đƣa ra, đƣợc công chúng chấp nhận hoàn toàn. Cùng một thông điệp truyền thông, khán giả khác nhau có thể hiểu theo những cách khác nhau và có thể có những phản ứng khác nhau với nó. Một số ngƣời tin và tiếp nhận thông điệp này, những ngƣời khác từ chối nó bằng cách sử dụng kiến thức từ kinh nghiệm của riêng mình hoặc có thể sử dụng các quy trình của logic hay các lý do cơ bản khác để chỉ trích những gì đang đƣợc nói (Miller and Philo, 2001). Tác động của truyền thông đến công chúng Với những đối tƣợng khác nhau, truyền thông có các cấp độ tác động khác nhau: - Tác động mạnh đối với những ngƣời chƣa hình thành ý kiến, quan điểm - Tác động trungbình tới những ngƣời đang hình thành quan điểm - Tác động yếu tới những ngƣời đã hình thành quan điểm Đặc điểm trong quá trình tiếp nhận thông điệp truyền thông từ công chúng: 20 Tổng hợp từ các nghiên cứu của Hovland, Lumsdaine, và Sheffield (trong nghiên cứu năm 1949); Lumsdaine và Janis (trong nghiên cứu năm 1949); Faison (trong nghiên cứu năm 1961), Sawyer (trongnghiên cứu năm 1973) chỉ ra rằng: - ối với truyền thông, ngƣời ta càng hiểu biết về một vấn đề nào đó thì càng ít bị ảnh hưởng hoặc làm thay đổi quan điểm bởi một hình thức truyền thông cụ thể nào.
- Hiệu quả của truyền thông phụ thuộc vào trình độ học vấncủa ngƣời nghe. Những ngƣời có trình độ học vấn cao hơn bị ảnh hƣởng nhiều hơn bởi các thông điệp hai chiều, các thông điệp một chiều ảnh hƣởng dễ dàng hơn tới những ngƣời có trình độ học vấn thấp hơn. - Cách thức truyền thông hai chiều hiệu quả về lâu dài hơn truyền thông một chiều, khi các cá nhân đƣợc tiếp cận với các lý lẽ trái chiều tiếp sau, hoặc khi các cá nhân đƣợc tiếp cận với quan điểm đƣợc trình bày ngay từ ban đầu. Công chúng truyền hình 1.
Khái niệm ông ch ng tru ền hình là những ngƣời tiếp nhận thông tin từ loại hình truyền thông truyền hình. Trong xã hội thông tin hiện nay, con ngƣời của xã hội hiện đại đã và đang tiếp nhận thông tin từ nhiều phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Vì vậy đã tạo ra từng lớp công chúng của từng loại hình báo chí riêng biệt, có thể một cá nhân tiếp nhận thông tin từ nhiều loại phƣơng tiện truyền thông nhƣng sự tiếp nhận của từng loại rõ ràng là có khác biệt và họ trở thành công chúng riêng biệt của từng loại hình báo chí[21, tr.