Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Biểu thức quy chiếu trong các văn bản khoa học xã hội" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Long dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Hữu Hoàng, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2024), chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9 22 90 20.

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, xu hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang xem xét ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp thực tế và đời sống thường nhật. Dưới góc độ Ngữ dụng học được phát triển từ các nghiên cứu nền tảng của J.L. Austin và J.R. Searle, quy chiếu (reference) và biểu thức quy chiếu (referring expression) giữ vai trò then chốt nhằm giúp người tham gia giao tiếp nhận diện chính xác đối tượng được đề cập. Trong các văn bản khoa học xã hội, việc truyền tải thông tin mang tính chất của một cuộc đối thoại đặc biệt giữa tác giả và độc giả. Tác giả bài viết cần sử dụng hệ thống biểu thức quy chiếu đa dạng, chuẩn mực để tránh sự lặp lại đơn điệu, duy trì tính chuyên nghiệp, đảm bảo tính liên kết mạch lạc và hạn chế những phản ứng tiêu cực từ phía người đọc khi đối tượng độc giả có thể thay đổi về độ tuổi, trình độ và kinh nghiệm qua thời gian. Mặc dù trên thế giới vấn đề quy chiếu đã được tiếp cận rộng rãi, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu chuyên sâu về biểu thức quy chiếu trong loại hình văn bản đặc thù như văn bản khoa học xã hội vẫn còn là một khoảng trống.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai điểm chính:

  1. Nghiên cứu các biểu thức quy chiếu xét từ các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa nhằm tìm hiểu phương thức quy chiếu.
  2. Tìm hiểu các giá trị của biểu thức quy chiếu trong văn bản khoa học xã hội, phục vụ khả năng ứng dụng vào thực tế công tác biên tập bài viết tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam.

Để hiện thực hóa hai mục tiêu trên, luận án triển khai ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan những vấn đề lý thuyết có liên quan đến biểu thức quy chiếu.
  2. Phân loại và miêu tả các biểu thức quy chiếu xét từ phương diện cấu tạo.
  3. Tìm hiểu các đặc điểm ngữ nghĩa học và dụng học của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các biểu thức quy chiếu chỉ người xuất hiện trong văn bản khoa học xã hội.
  • Phạm vi nghiên cứu: Ngữ liệu khảo sát được thu thập từ các bài viết nghiên cứu đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2017 – 2022, trải dài qua 72 số tạp chí, trong đó có 57 bài viết chứa ngữ liệu biểu thức quy chiếu chỉ người tiêu biểu được trích xuất và lập danh mục phân tích chi tiết.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề quy chiếu và biểu thức quy chiếu đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới lẫn trong nước qua các hướng tiếp cận lý thuyết và ứng dụng:

Trên bình diện quốc tế:

  • Các nghiên cứu lý thuyết: Thuật ngữ "referring expression" lần đầu tiên được L. Hjelmslev đề xuất vào năm 1943 trong tác phẩm Omkring sprogteoriens grundlæggelse (bản dịch tiếng Anh năm 1953: Prolegomena to a theory of language). F. de Saussure trong Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương đã phân tích quá trình quy chiếu sự vật qua hình ảnh cái cây để làm rõ mối quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified). Otto Jespersen (1924) trong The philosophy of grammar đưa ra khái niệm thành phần phụ trợ sơ loại (restrictive/qualifying adjunct) giúp người nghe khoanh vùng và xác định đúng đối tượng. J.L. Austin (1962) với How to do things with words và J.R. Searle (1969) phát triển lý thuyết hành động ngôn từ, trong đó Searle đề xuất 7 điều kiện để thực hiện quy chiếu thành công. S.C. Levinson (1983) trong Pragmatics phân tích sâu về chỉ xuất (deixis) gồm chỉ xuất nhân xưng, không gian, thời gian, xã hội và diễn ngôn. S. Ullmann (1951) với mô hình tam giác ngữ nghĩa; J.R. Hurford, B. Heasley và M.B. Smith trong Semantics - A coursebook định nghĩa biểu thức quy chiếu gắn với đối tượng cụ thể trong tâm trí; D. Geeraerts nghiên cứu ngữ nghĩa học từ vựng; O.I. Moskalskaja nghiên cứu ngữ pháp văn bản; D. Lee nghiên cứu hiện tượng mơ hồ quy chiếu trong không gian thời tính; J. Lyons (1977) phân tích tam giác ngữ nghĩa (tín hiệu - khái niệm - vật quy chiếu), các biểu thức miêu tả xác định và hiện tượng mờ quy chiếu (reference opacity); M.A.K. Halliday (1976, 1985) nghiên cứu chức năng quy chiếu từ góc độ ngữ pháp chức năng và tính liên kết hồi chỉ/ngoại chỉ.
  • Các nghiên cứu ứng dụng: Miriam Eckert khảo sát chỉ xuất diễn ngôn và hồi chỉ trong tiếng Đức; N. Truan phân tích hình thức ngôi thứ ba trong tiếng Anh, Đức, Pháp; Etsuko Yoshida khảo sát biểu thức quy chiếu trong hội thoại tiếng Anh và tiếng Nhật; Posio nghiên cứu đại từ nhân xưng qua ngữ liệu Habla Culta de Salamanca (74.000 từ) trong tiếng Tây Ban Nha; Hye-Kyung Lee (2010) so sánh thuật ngữ tham chiếu trong bản tin chính trị Anh - Hàn; Hazim al dilaimy so sánh biểu thức xác định và không xác định trong tiếng Anh và tiếng Ả Rập; C. Davies nghiên cứu ảnh hưởng của ngữ cảnh; K. Allan (2010) nhìn nhận quy chiếu như một hành động ngữ dụng; A. Bonifazi nghiên cứu hồi chỉ bằng tên riêng trong truyện trinh thám; Tshikwatamba sử dụng mô hình tam giác ý nghĩa.

Tại Việt Nam:

  • Các nghiên cứu lý thuyết: Diệp Quang Ban, Nguyễn Hòa, Nguyễn Chí Hòa, Lý Toàn Thắng (tiếp cận từ diễn ngôn và văn bản); Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Việt Hùng, Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân, Lê Quang Thiêm (tiếp cận từ ngữ nghĩa học và từ vựng học); Nguyễn Tài Cẩn, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hảo, Hà Quang Năng, Nguyễn Kim Thản, Trần Ngọc Thêm, Bùi Minh Toán (tiếp cận từ ngữ pháp và cấu trúc tiếng Việt); Nguyễn Văn Khang (ngôn ngữ học xã hội); Nguyễn Văn Hiệp (ngữ nghĩa phân tích cú pháp). Các từ điển thuật ngữ chuyên ngành của Nguyễn Như Ý cùng nhóm tác giả (1996) ghi nhận các thuật ngữ "biểu niệm", "biểu vật", và từ điển của Diệp Quang Ban định nghĩa "biểu thức quy chiếu", "vật chiếu", "đồng chiếu".
  • Các nghiên cứu ứng dụng thực nghiệm: Đỗ Hữu Châu (1985, 1992) mở đầu nghiên cứu các yếu tố dụng học tiếng Việt; Phạm Văn Tình khảo sát hiện tượng tỉnh lược đồng sở chỉ; Bùi Minh Toán xem xét biểu thức miêu tả chiếu vật qua câu đố dân gian; Ngô Hữu Hoàng phân tích đại từ nhân xưng "tôi", "chúng tôi", "chúng ta" trong Tuyên ngôn độc lập; Trần Thị Thủy khảo sát sách giáo khoa tiếng Anh THPT ghi nhận tỷ lệ hồi chiếu chiếm 95,32%, tỉnh lược chiếm 3,33%, ngoại chiếu chiếm 0,98% và khứ chiếu chiếm 0,37%; Nguyễn Thị Ngọc Hân nghiên cứu lỗi liên kết hồi chỉ của sinh viên Hàn Quốc học tiếng Việt; Lê Thời Tân phân tích sở chỉ của từ "tra" trong truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn; Triệu Thu Hằng khảo sát dịch thuật biểu thức quy chiếu người trong truyện Harry Potter; Nguyễn Thị Hoài Phương khảo sát biểu thức quy chiếu người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Đặng Thị Bảo Dung khảo sát 15 bài phát biểu của 5 Tổng thống Mỹ (quy chiếu chỉ ngôi chiếm 43,3%, chỉ định chiếm 52,4%, so sánh chiếm 4,3%); Ngô Thị Kim Khánh khảo sát 74 truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (52 truyện sử dụng 142 tên riêng với 1391 lượt dùng); Nguyễn Quang xây dựng hệ quy chiếu văn hóa ba tầng; Nguyễn Thị Bích Hà khảo sát từ "trăng" trong thơ thiếu nhi (cấu tạo từ đơn chiếm 72,2%, từ ghép chiếm 27,8%); Nguyễn Tú Quyên nghiên cứu biểu thức sở chỉ và đồng sở chỉ trong văn học Việt Nam thế kỷ 20.
Hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Trọng tâm nghiên cứu
Lý thuyết thế giới L. Hjelmslev, F. de Saussure, O. Jespersen, J.L. Austin, J.R. Searle, S.C. Levinson, J. Lyons, M.A.K. Halliday Bản chất ký hiệu học, hành động ngôn từ, tam giác ngữ nghĩa, chỉ xuất và ngữ pháp chức năng
Ứng dụng thế giới M. Eckert, N. Truan, E. Yoshida, Posio, H.K. Lee, H. al dilaimy, K. Allan Quy chiếu trong diễn ngôn hội thoại, báo chí chính trị, truyện trinh thám đa ngôn ngữ
Lý thuyết tại Việt Nam Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hảo, Nguyễn Văn Khang Cơ sở ngữ dụng học, ngữ nghĩa học, từ chỉ xuất, lý thuyết giao tiếp tiếng Việt
Ứng dụng tại Việt Nam Ngô Hữu Hoàng, Phạm Văn Tình, Bùi Minh Toán, Trần Thị Thủy, Đặng Thị Bảo Dung, Ngô Thị Kim Khánh, Nguyễn Tú Quyên Khảo sát quy chiếu trong tác phẩm văn học, diễn văn chính trị, sách giáo khoa, câu đố

Khoảng trống luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trước đây tập trung vào tác phẩm văn học, bài phát biểu chính trị, hội thoại thường nhật hoặc sách giáo khoa. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu chuyên biệt về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các biểu thức quy chiếu chỉ người trong loại hình văn bản khoa học xã hội tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng từ sự kết hợp liên ngành giữa Ngữ dụng học, Ngữ nghĩa học, Ký hiệu học và Phân tích diễn ngôn:

  • Khái niệm quy chiếu và biểu thức quy chiếu: Luận án tiếp thu định nghĩa của Asher (quy chiếu là thực thể thực tế được chỉ ra bằng sự diễn đạt ngôn từ), Frege (biểu thức quy chiếu là sự mô tả xác định trỏ tới vật thể duy nhất), Hurford, Heasley và Smith (biểu thức được dùng với một sở chỉ cụ thể trong tâm trí), Nguyễn Thiện Giáp (hình thức ngôn ngữ cho phép người nghe/người đọc nhận diện đối tượng). Tác giả phân biệt rõ "biểu thức ngôn ngữ" (chưa chắc đã gắn với thực thể xác định) và "biểu thức quy chiếu" (đơn vị ngôn ngữ có chức năng trỏ tới đối tượng trong thế giới khả hữu).
  • Chức năng ngôn ngữ và tương tác giao tiếp: Tiếp cận theo mô hình chức năng của R. Jakobson, luận án tập trung vào chức năng quy chiếu (referential) kết hợp xem xét góc độ liên nhân/cảm xúc (interpersonal/emotive) theo cách phân loại của M.A.K. Halliday và Gillian Brown - George Yule. Đồng thời, luận án sử dụng khung phân tích giao tiếp SPEAKING của Dell Hymes (gồm bối cảnh, người tham gia, mục đích, chuỗi hành động, giọng điệu, phương tiện, chuẩn mực tương tác/chuẩn giải thích, thể loại) và hệ thống hóa 3 nhóm nhân tố giao tiếp của Đỗ Hữu Châu (Ngữ cảnh, Ngôn ngữ, Diễn ngôn; Hiện thực ngoài diễn ngôn; Hệ quy chiếu và Thế giới khả hữu).
  • Mô hình nghĩa học và cơ chế quy chiếu: Luận án kế thừa tam giác ngữ nghĩa của John Lyons (Đỉnh A: Tín hiệu - sign/lexeme; Đỉnh B: Khái niệm - concept; Đỉnh C: Vật quy chiếu - significatum) cùng quan điểm ký hiệu học của Saussure và phân loại chiếu vật của Đỗ Hữu Châu, David Nunan (phân biệt chiếu vật đơn nhất không thể nhầm lẫn và chiếu vật phụ thuộc ngữ cảnh có thể nhầm lẫn).
  • Khung lý thuyết quy chiếu chức năng của M.A.K. Halliday: Phân tích cơ chế ngoại chỉ (exophoric), hồi chỉ (anaphoric) và khứ chỉ (cataphoric); hệ thống hóa lớp từ quy chiếu nhân xưng và vai trò liên kết văn bản của đại từ ngôi thứ ba.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp luận khoa học duy vật biện chứng trong việc nhìn nhận ngôn ngữ như một hiện thực khách quan gắn liền với hoạt động tư duy và giao tiếp xã hội.
  • Phương pháp thu thập ngữ liệu: Xây dựng bảng tiêu chí, rà soát, trích xuất các cụm từ, mệnh đề và câu chứa biểu thức quy chiếu chỉ người từ các bài báo khoa học.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Miêu tả cấu trúc hình thức, phân tích các thành phần trung tâm và phụ ngữ của biểu thức quy chiếu.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Nhận diện vai trò, chức năng ngữ nghĩa và ngữ dụng của biểu thức quy chiếu trong ngữ cảnh văn bản khoa học xã hội.
  • Thủ pháp thống kê: Thống kê số lượng, phân loại dữ liệu theo từng tiểu mục cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng.
  • Nguồn tư liệu: 72 số của Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản trong giai đoạn 2017 – 2022, chọn lọc dữ liệu minh họa từ 57 bài viết nghiên cứu chuyên sâu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện lịch sử nghiên cứu biểu thức quy chiếu trên thế giới và ở Việt Nam theo hai trục lý thuyết và ứng dụng. Tác giả làm rõ các khái niệm bản lề: quy chiếu, sở chỉ, chiếu vật, biểu thức quy chiếu, phân biệt giữa biểu thức ngôn ngữ thuần túy và biểu thức quy chiếu thực tế. Chương này trình bày bản chất hoạt động giao tiếp từ phương diện dụng học, phân tích cấu trúc giao tiếp thông qua khung SPEAKING của D. Hymes, quan điểm phân loại ba nhóm nhân tố giao tiếp của Đỗ Hữu Châu, cùng các khái niệm hiện thực ngoài diễn ngôn, vị thế giao tiếp giữa tác giả - độc giả, hệ quy chiếu và thế giới khả hữu. Đồng thời, chương 1 phân tích các mô hình nghĩa học (tam giác nghĩa học của J. Lyons, quan hệ cái biểu đạt - cái được biểu đạt của F. de Saussure) và lý thuyết quy chiếu chức năng liên kết diễn ngôn của M.A.K. Halliday, đặt nền móng lý luận cho việc khảo sát ngữ liệu văn bản khoa học xã hội ở các chương sau.

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội

Chương 2 tập trung phân loại và miêu tả chi tiết cấu tạo hình thức của các biểu thức quy chiếu chỉ người trong nguồn ngữ liệu khảo sát. Các dạng cấu tạo chính được khảo sát bao gồm:

  • Biểu thức tên riêng: Sử dụng danh từ riêng đơn lẻ để chỉ đích danh các học giả, nhà nghiên cứu hoặc nhân vật được khảo sát trong bài viết khoa học.
  • Biểu thức miêu tả: Sử dụng các danh ngữ có cấu trúc trung tâm kết hợp với các định ngữ/thành phần phụ trợ sơ loại (như chức danh khoa học, nghề nghiệp, đặc điểm nhân thân, vai trò xã hội) nhằm khoanh vùng và nhận diện đối tượng.
  • Biểu thức chỉ xuất: Sử dụng các từ chỉ xuất (đại từ nhân xưng, từ chỉ định) để quy chiếu đối tượng dựa vào vị trí giao tiếp và ngữ cảnh diễn ngôn.
  • Các dạng kết hợp: Khảo sát các cấu trúc phức hợp bao gồm biểu thức tên riêng kết hợp với miêu tả; biểu thức tên riêng kết hợp với chỉ xuất; biểu thức miêu tả kết hợp với chỉ xuất; và dạng kết hợp đầy đủ gồm biểu thức tên riêng kết hợp với cả miêu tả và chỉ xuất.
  • Cơ sở để thành lập biểu thức quy chiếu: Phân tích các nguyên tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa và thói quen diễn đạt học thuật chi phối cách thức kết hợp các thành tố cấu tạo trong danh ngữ chỉ người.

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa ngữ dụng của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội

Chương 3 đi sâu phân tích bình diện ngữ nghĩa và chức năng dụng học của các biểu thức quy chiếu trong diễn ngôn khoa học xã hội:

  • Đặc điểm ngữ nghĩa: Phân tích mối quan hệ giữa nghĩa biểu vật (sở chỉ) và nghĩa biểu niệm (khái niệm) của các biểu thức chỉ người; khảo sát mức độ cụ thể hóa và tính xác định của thông tin ngữ nghĩa.
  • Tỷ lệ biểu thức quy chiếu xác định và không xác định: Thống kê, so sánh tần suất xuất hiện giữa biểu thức quy chiếu xác định (definite referring expressions - đối tượng người đọc đã biết hoặc dễ dàng nhận diện duy nhất) và biểu thức quy chiếu không xác định (indefinite referring expressions - đối tượng mới xuất hiện hoặc tập hợp đối tượng chung).
  • Đặc điểm ngữ dụng của biểu thức quy chiếu trong văn bản khoa học xã hội: Làm rõ phương thức tác giả thiết lập sự tương tác với độc giả, duy trì tính khách quan khoa học, thể hiện chức năng liên nhân và định hướng tiếp nhận thông tin.
  • Nhận diện đối tượng biểu thức quy chiếu trỏ tới trong các bài viết khoa học xã hội: Phân tích cơ chế suy luận dụng học, vai trò của tiền giả định và các yếu tố hồi chỉ/khứ chỉ giúp người đọc giải mã chính xác đối tượng mà người viết hướng tới trong cấu trúc mạch lạc của bài báo khoa học.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Góp phần làm rõ bản chất hiện tượng quy chiếu trong một loại hình diễn ngôn chuyên biệt là văn bản khoa học xã hội tiếng Việt.
  • Chỉ ra phương thức và thói quen lựa chọn các dạng thức biểu thức quy chiếu chỉ người mà các nhà nghiên cứu Việt Nam thường sử dụng trong công bố khoa học.
  • Bước đầu xác định vai trò, ý nghĩa của biểu thức quy chiếu trong phân tích diễn ngôn văn bản học thuật và phương thức thực hiện chức năng liên nhân (interpersonal function) giữa tác giả và cộng đồng khoa học.
  • Làm rõ vị trí của biểu thức quy chiếu như một phương tiện liên kết ngữ nghĩa và tổ chức thông tin trong cấu trúc bài báo khoa học.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị:

  • Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở ngôn ngữ học giúp nâng cao hiệu quả đọc hiểu, xử lý và phân tích văn bản khoa học xã hội trong chuỗi mạch diễn ngôn.
  • Đóng góp luận cứ thực tiễn giúp người viết bài báo khoa học nâng cao nhận thức về việc lựa chọn biểu thức ngôn ngữ, từ đó tối ưu hóa tính chính xác và tính mạch lạc của bài viết.
  • Kiến nghị giải pháp cụ thể cho thực tế biên tập bài viết tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam: Tác giả bài viết cần tăng cường sử dụng các biểu thức miêu tả trong quy chiếu chỉ người nhằm thay đổi, đa dạng hóa cách diễn đạt, hạn chế sự lặp từ đơn điệu và tạo nên sự sinh động, mới mẻ cho văn bản học thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt phạm vi và nguồn dữ liệu, luận án tự giới hạn việc khảo sát tập trung vào các biểu thức quy chiếu chỉ người, chưa bao quát toàn bộ các biểu thức quy chiếu chỉ vật, chỉ sự kiện hay chỉ không gian - thời gian trong văn bản khoa học xã hội. Nguồn ngữ liệu thực nghiệm được thu thập giới hạn trong phạm vi các bài viết nghiên cứu đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022 (72 số tạp chí).

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sang các loại hình biểu thức quy chiếu phi nhân xưng (quy chiếu chỉ vật, sự việc, khái niệm khoa học) hoặc đối chiếu so sánh việc sử dụng biểu thức quy chiếu giữa văn bản khoa học xã hội với các phong cách chức năng khác như văn bản khoa học tự nhiên, văn bản báo chí hay văn bản hành chính - công vụ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngữ dụng học, Ngữ nghĩa học và Phân tích diễn ngôn: Tham khảo khung lý thuyết tổng quan có hệ thống về quy chiếu, cấu trúc danh ngữ và phương pháp phân tích ngữ liệu thực nghiệm tiếng Việt.
  • Biên tập viên tại các tạp chí khoa học và nhà xuất bản: Ứng dụng các phát hiện về cấu tạo và chức năng ngữ dụng của biểu thức quy chiếu để nâng cao chất lượng biên tập câu từ, rà soát tính liên kết mạch lạc và chuẩn hóa văn phong học thuật cho các bản thảo.
  • Tác giả viết bài nghiên cứu khoa học xã hội: Giúp người viết chủ động nhận biết và lựa chọn các dạng thức biểu thức quy chiếu (tên riêng, miêu tả, chỉ xuất, kết hợp) phù hợp với ngữ cảnh học thuật nhằm tăng sức thuyết phục và tính chuẩn xác của lập luận.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án khảo sát đối tượng nghiên cứu nào và trên nguồn ngữ liệu cụ thể nào? Luận án tập trung nghiên cứu các biểu thức quy chiếu chỉ người xuất hiện trong các bài viết nghiên cứu đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022, khảo sát qua 72 số tạp chí và trích xuất danh mục ngữ liệu minh họa từ 57 bài viết.

  2. Cấu tạo của biểu thức quy chiếu chỉ người trong văn bản khoa học xã hội gồm những dạng thức chính nào? Bao gồm ba dạng thức cơ bản là biểu thức tên riêng, biểu thức miêu tả, biểu thức chỉ xuất; cùng bốn dạng kết hợp phức hợp: tên riêng kết hợp miêu tả, tên riêng kết hợp chỉ xuất, miêu tả kết hợp chỉ xuất, và tên riêng kết hợp đồng thời với miêu tả và chỉ xuất.

  3. Tại sao tác giả văn bản khoa học xã hội cần đa dạng hóa biểu thức quy chiếu miêu tả? Theo kết quả nghiên cứu, việc sử dụng các biểu thức miêu tả trong quy chiếu chỉ người giúp tránh sự lặp lại đơn điệu của tên riêng hoặc đại từ, bổ sung các thuộc tính khoa học/nhân thân cần thiết, tạo sự sinh động, mạch lạc cho diễn ngôn và duy trì văn phong học thuật chuẩn mực trước các nhóm độc giả khác nhau.

  4. Luận án kế thừa những khung lý thuyết nền tảng nào về quy chiếu và giao tiếp? Luận án kế thừa lý thuyết hành động ngôn từ của J.L. Austin và J.R. Searle, mô hình tam giác ngữ nghĩa của John Lyons, ngữ pháp chức năng và liên kết diễn ngôn của M.A.K. Halliday, khung giao tiếp SPEAKING của Dell Hymes cùng hệ thống lý luận ngữ dụng học tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp.

  5. Đóng góp thực tiễn nổi bật nhất của luận án là gì? Cung cấp căn cứ khoa học cho công tác biên tập bài viết tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam và hỗ trợ người viết bài nghiên cứu nâng cao kỹ năng sử dụng biểu thức quy chiếu nhằm tối ưu hóa tính liên kết và hiệu quả giao tiếp học thuật.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Long là công trình nghiên cứu chuyên sâu về biểu thức quy chiếu chỉ người trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt dựa trên ngữ liệu Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022. Bằng việc kết hợp các phương pháp miêu tả ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn và thống kê ngữ liệu, luận án đã làm sáng tỏ các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng của hệ thống biểu thức quy chiếu học thuật. Công trình góp phần bổ sung khoảng trống nghiên cứu về diễn ngôn khoa học xã hội tại Việt Nam, đồng thời mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác biên tập tạp chí và nâng cao chất lượng biên soạn văn bản khoa học.