Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết Chương này trình bày những vÃn đề lí thuyết làm nền tÁng cho viác triển khai đề tài. Đặc điểm cấu tạo của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội Chương này tìm hiểu cÃu t¿o biểu thức quy chiếu trong các bài viết khoa hác đng trên T¿p chí Khoa hác xã hái Viát Nam. Đặc điểm ngữ nghĩa ngữ dụng của biểu thức quy chiếu trong một số văn bản khoa học xã hội Chương 3 phân tích đặc điểm ngữ nghĩa ngữ dụng của biểu thức quy chiếu trong mát số vn bÁn khoa hác xã hái.
Ngoài ra, luận án còn đính kèm Phụ lục thống kê 57 bài viết chứa biểu thức quy chiếu mà chúng tôi đã thu thập được và đưa làm ví dụ minh háa trong nghiên cứu. 9 Ch°¢ng 1 TàNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CĄU VÀ C¡ Sä LÍ THUY¾T D¿n nhÁp Theo Fontain, L. Thuật ngữ biểu thức quy chiếu (referring expression) được L. Hjelmslev [86] l¿n đ¿u tiên đưa ra trong cuốn Omkring sprogteoriens grundlæggelse (Cơ sở lí thuyết ngôn ngữ), xuÃt bÁn nm 1943 bằng tiếng Đan M¿ch và sau đó được Nhà xuÃt bÁn Baltimore thuác Đ¿i hác Indiana (Hoa Kỳ) cho dßch và xuÃt bÁn bằng tiếng Anh nm 1953, với tiêu đề Prolegomena to a theory of language.
Biểu thức quy chiếu là đơn vß ngôn ngữ mà bên phát thông tin sử dụng để trỏ tới mát đối tượng nào đó trong thế giới khÁ hữu. Biểu thức quy chiếu là đối tượng nghiên cứu được nhiều chuyên ngành khoa hác quan tâm. Táng quan tình hình nghiên cąu biáu thąc quy chi¿u 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.
Các nghiên cứu theo hướng lý thuyết VÃn đề biểu thức quy chiếu đã được nhiều nhà ngôn ngữ hác trên thế giới quan tâm, trong đó có những công trình tiêu biểu của các tác giÁ sau: De Saussure [53] với cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương; Otto Jespersen [91] có The philosophy of grammar; Austin [73] có cuốn How to do things with words; Yule [69] với cuốn Pragmatics (Dụng hác, được dßch sang tiếng Viát và xuÃt bÁn nm 2003); Levinson [93] với Pragmatics; Ullmann, S. [100] The Principles of Semantics; James R. Hurford, Bredan Heasley và Michael B Schmith [88] với công trình <Semantics - A coursebook=; Geeraerts, D. [82] có Theories of Lexical Semantics; Lee, D.
[16] có Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận; Lyons [43] có Ngữ nghĩa học dẫn luận. Những đóng 10 góp quan tráng của các công trình này liên quan tới biểu thức quy chiếu được trình bày á ph¿n dưới đây. De Saussure [53] là nhà nghiên cứu tiêu biểu trong ngôn ngữ hác nói chung, có nhiều đóng góp làm cơ sá cho dụng hác phát triển sau này. Với cuốn Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương, ông đã miêu tÁ phương thức ngưßi ta quy chiếu sự vật, với hình Ánh cái cây được thể hián trong các ngôn ngữ khác nhau.
Dù được thể hián ra bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng cuối cùng thì đối tượng mà các biểu thức này trỏ về cũng là những cái cây. Ông chỉ ra viác cái cây, dù được thể hián ra bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau, nhưng ngưßi đác, ngưßi nghe vẫn luôn có thể hình dung ra được mát <cái cây=, có gốc, có thân, và có ngán, thuác loài thực vật, tồn t¿i trên trái đÃt. Viác quy chiếu <cái cây= này bằng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau không cÁn trá đác giÁ trỏ về đúng đối tượng mà bên phát ngôn muốn chỉ ra. Theo ông, viác dùng các biểu thức ngôn ngữ để trỏ cho đác giÁ biết mình đang muốn nói đến mát cái cây là mát công đo¿n phức t¿p, đòi hỏi ngưßi nói phÁi dùng các phương tián ngôn ngữ hián có để giúp cho ngưßi nghe hiểu được mình đang muốn đề cập tới đối tượng nào.
Ngưßi ta c¿n tránh đơn giÁn hóa vÃn đề, bái vì <nó đưa ngưßi ta đến chß giÁ đßnh rằng mối quan há gắn bó mát tên gái với mát sự vật là mát thao tác hết sức đơn giÁn, mà điều đó hoàn toàn không đúng= [53, 138]. Otto Jespersen [91] là ngưßi có đóng góp rÃt lớn cho nghiên cứu về ngôn ngữ, ông đã dành nhiều thßi gian nghiên cứu về dụng hác và các biểu thức quy chiếu. Trong công trình The philosophy of grammar xuÃt bÁn l¿n đ¿u nm 1924, ông đã trình bày nhiều vÃn đề cơ bÁn của quy chiếu. Ông cho rằng, quy chiếu về bÁn chÃt là quy trình mát ngưßi tìm về đúng đối tượng mình c¿n tìm: tương tự như viác đi lên t¿ng 5, nếu ngưßi đó đang á t¿ng 4 thì chỉ c¿n đi lên thêm mát t¿ng nữa là tới t¿ng 5, nếu đang á t¿ng 1 thì phÁi đi lên 5 t¿ng.
Quy 11 trình quy chiếu cũng vậy, nếu đối tượng c¿n quy chiếu là dß dàng được chỉ ra và được nhận biết thì quy trình này đơn giÁn, còn nếu đối tượng khó nhận dián được thì ngưßi nói phÁi sử dụng nhiều phương tián khác nhau mới chỉ ra cho ngưßi nghe biết được đÃy là đối tượng nào. Các phương tián mà ngưßi nói gắn thêm vào thành ph¿n chính, để ngưßi nghe có thể xác đßnh được đúng đối tượng mà ngưßi nói muốn đề cập tới, được Jespersen [91] gái là restrictive/qualifying adjunt (ph¿n phụ trợ sơ lo¿i, tương đương đßnh ngữ). Các từ phụ trợ sơ lo¿i này có chức nng h¿n chế số lượng các vật thể c¿n thiết để có thể xác đßnh được đúng đối tượng mà ngưßi nói muốn trỏ tới, ví dụ <đỏ= trong <hoa hồng đỏ= sẽ xác đßnh rõ chỉ có những hoa hồng màu đỏ mới được xem xét, các lo¿i hoa hồng trắng/xanh… sẽ không được tính đến. Theo hướng nghiên cứu này, nhiều nhà ngôn ngữ hác đã kế thừa và vận dụng phương thức mà Jespersen [91] đã đề ra.
Jespersen cũng cho rằng, các ph¿n phụ trợ sơ lo¿i có tính chÃt tương đối, mißn là chúng có thể chỉ dẫn cho ngưßi nghe xác đßnh đúng đối tượng mà ngưßi phát ngôn muốn ngưßi nhận phát ngôn nhận biết nó. Ví dụ, nếu mát cÁnh sát nói với đồng nghiáp, anh hãy theo dõi tên đang hút xì gà uống rượu ngo¿i á góc cuối phòng, thì dù đối tượng đó có thể đang không hút xì gà mà chỉ là hút thuốc lá, không uống rượu ngo¿i mà chỉ đơn giÁn là uống rượu nái đßa, thì ngưßi nghe (trong trưßng hợp này là ngưßi đồng nghiáp của viên cÁnh sát) cũng vẫn có thể xác đßnh được đúng đối tượng c¿n theo dõi. Tráng tâm của viác nghe và hiểu các chỉ dẫn á đây là làm sao xác đßnh được đúng đối tượng c¿n theo dõi, không phÁi là viác đối tượng đó có thật sự đang hút xì gà, hay đang uống rượu ngo¿i hay không. Viác ngưßi nghe 12 có thể xác đßnh đúng đối tượng mà ngưßi nói trỏ tới thưßng phụ thuác vào các phụ trợ sơ lo¿i này, các thành ph¿n này càng cụ thể rõ ràng thì ngưßi nghe càng có cơ hái xác đßnh đúng đối tượng được quy chiếu.
Chúng tôi cho rằng, cách phân lo¿i của Jespersen rÃt dß hiểu và dß áp dụng cho phân lo¿i và nghiên cứu biểu thức quy chiếu, các thành ph¿n phụ trong biểu thức chỉ là các phương tián giúp cho ngưßi đác, ngưßi nghe có thể nhận dián được những đối tượng đÃy. Nghiên cứu về dụng hác có sự đóng góp lớn của Austin [73] và Searle [97]. Nm 1962, sau khi Austin qua đßi, các hác trò của ông đã tổ chức và biên so¿n những bài giÁng của ông thành mát tác ph¿m có tựa đề <How to do things with words= (Cách thực hiện hành động bằng lời nói). Cuốn sách trình bày nhiều vÃn đề trong giao tiếp, bao gồm hành đáng ngôn từ, hành đáng t¿i lßi, và mát số vÃn đề thuác về giao tiếp.
Austin [73] đã mô tÁ nhiều khía c¿nh liên quan đến lĩnh vực dụng hác và ho¿t đáng ngôn ngữ của con ngưßi, bao gồm các vÃn đề về tiền giÁ đßnh. Theo ông, để có thể thực hián được giao tiếp thành công, các bên tham gia c¿n có những giÁ đßnh để giao tiếp có thể tiến hành, c¿n được giÁi thích nếu mát bên hiểu sai đối tượng bên kia đang bàn tới. Searle [97] đã tiếp tục và phát triển lý thuyết của Austin. Searle [97] đề xuÃt rằng để ngưßi nghe hoặc ngưßi đác có thể suy luận đúng đối tượng mà ngưßi nói hoặc ngưßi viết đang đề cập tới, c¿n phÁi có bÁy yếu tố quan tráng: 1) ĐÁm bÁo điều kián đ¿u vào và đ¿u ra; 2) Phát ngôn của ngưßi nói dißn ra như mát ph¿n của chußi phát ngôn hoặc chußi câu; 3) Phát ngôn được xem xét như mát hành vi t¿i lßi; 4) PhÁi có đối tượng được ngưßi nói hoặc ngưßi viết muốn ngưßi nghe hoặc ngưßi đác nhận dián được; 5) Ngưßi nói hoặc ngưßi viết dự kiến rằng ngưßi nghe hoặc ngưßi đác sẽ nhận dián được đối tượng; 6) Ngưßi nói hoặc ngưßi viết dự tính rằng ngưßi nghe hoặc ngưßi đác sẽ nhận dián được đối tượng thông qua viác hiểu các quy tắc của phát ngôn và 13 dựa trên ngữ cÁnh của nó; 7) Các quy tắc ngữ nghĩa phÁi được thỏa mãn đ¿y đủ để quy chiếu có thể thành công.
Ông trình bày các vÃn đề về quy chiếu và thuác ngữ, quy chiếu và tên riêng, ngữ cÁnh và quy chiếu, các hình thái quy chiếu hồi chỉ, khứ chỉ. Levinson [93] trong công trình Pragmatics (Ngữ dụng học) trình bày quy chiếu, chỉ xuÃt (deixis) bao gồm các chỉ xuÃt chỉ ngưßi/ngôi (person deixis), chỉ xuÃt không gian, chỉ xuÃt thßi gian, chỉ xuÃt xã hái. Levinson rÃt chú tráng tới biểu thức quy chiếu và cho rằng, mát trong những xuÃt phát điểm của dụng hác là viác hai bên tham gia đối tho¿i có thể chỉ cho nhau biết há đang đề cập tới đối tượng nào. Chỉ ra được đúng đối tượng mà bên phát tín hiáu đưa ra là mát trong những yêu c¿u rÃt cơ bÁn của dụng hác.
Ông đưa ra ví dụ: (1) Trßi tối, mát ngưßi tên là Harry nói <nghe này, tôi đồng ý với ông mà không đồng ý với ông, và không phÁi là về cái này mà là về cái này=. Trong điều kián trßi tối và không có bÃt cứ nguồn sáng nào, thì có thể nói phát ngôn trên không chỉ cho ngưßi nghe biết ngưßi nói đang đồng ý với <ông= nào (giÁ sử là có nhiều ông trong phòng), về <cái này= hay <cái này= thật ra là cái gì/cái nào. Để chỉ được cho ngưßi nghe biết cụ thể các đối tượng đó, c¿n có ánh sáng. Tương tự, những trưßng hợp quy chiếu khác đều c¿n những điều kián nhÃt đßnh.
Chỉ xuÃt dißn ngôn và chỉ xuÃt xã hái được Levinson [93], Lyons [43] chú ý nghiên cứu. Biểu thức quy chiếu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng hác mà còn là đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa hác.