mở đầu cho thời kỳ hƣng thịnh của văn bia Đại Việt, có số lƣợng khá phong phú, tuy đã bị hủy hoại mất mát nhiều, bao gồm cả thảy là 18 văn bia thời Lý [48], 44 văn bia thời Trần [49]. Thời Lê sơ (1428- 1527), chúng ta tìm thấy hơn 70 văn bia [30, tr. Các thời kỳ tiếp theo, thời Lê Trung hƣng (1533- 1789) có khoảng vài ngàn bia. Thời Tây Sơn (1789- 1802) do tồn tại trong thời gian ngắn nên số lƣợng văn bia có khoảng vài trăm bia [30, tr.
Thời Nguyễn (1802- 1945) cũng có khoảng vài ngàn văn bia. z Nhƣ vậy, trải dài theo thời gian từ các triều đại Đinh, Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hƣng, Tây Sơn, Nguyễn, văn bia Việt Nam thời phong kiến về cơ bản đƣợc hình thành và phát triển theo chiều hƣớng ngày càng tăng dần về số lƣợng, thời kỳ sau tăng hơn thời kỳ trƣớc. Tình hình sƣu tầm và nghiên cứu văn bia ở Việt Nam Sự phát triển của văn bia Hán Nôm Việt Nam đã để lại một kho tàng văn bia vô cùng quý giá đồ sộ về khối lƣợng và phong phú về loại hình. Văn bia Hán Nôm của ta còn đáng đƣợc chú ý bởi vị trí và tầm quan trọng của nó.
Nhiều ngành khoa học nhƣ triết học, lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội học, pháp luật, quân sự, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, văn tự, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, toán học, địa lí, y dƣợc, nông nghiệp, kiến trúc vv… sẽ phải dựa vào không ít văn bia Hán Nôm để dựng lại diện mạo một thời. Nhƣng sƣu tầm văn bia thì lại chƣa thấy mấy ngƣời làm, vì sao? Phải chẳng ngƣời xƣa coi nhẹ công việc đó? [21, tr.65] Sƣu tầm không phải là mục đích tự thân, song sƣu tầm chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho một mục đích cao hơn. Sƣu tầm là điều kiện đầu tiên cho việc xử lý, nghiên cứu và khai thác những di sản ấy. Khi sƣu tầm và tập trung các văn bia của cha ông, chúng ta mới có thể đối chiếu, cân nhắc và mới xác định đƣợc tính chính xác của những sự kiện trong lịch sử.
Từ thế kỷ thứ XV, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã chú ý đến các loại hình văn khắc: Ngô Sĩ Liên (thế kỉ XV) sƣu tập hai bài văn bia của Trƣơng Hán Siêu (? - 1354) và Lê Quát (thế kỉ XIV) trong bộ Đại Việt sử kí toàn thư 大 越 史 記 全 書 đồ sộ [18], Lê Quý Đôn (1726 - 1781) đã sử dụng văn khắc vào bia, vào đỉnh nhƣ một nguồn tƣ liệu chính thức để viết bộ Đại Việt thông sử 大 越 通 史 nổi tiếng [13]. Trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục 見 聞 z 小 錄 Lê Quí Đôn đã nêu một danh mục gồm 17 bài minh, bài ký khắc trên bia đá chuông đồng thời Lý - Trần [12]. Tiếp đó Bùi Huy Bích (1744 - 1818) đã công bố nhiều bài văn khắc trên bia chuông trong tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển 黃 越 文 選, bên cạnh những áng văn chƣơng nổi tiếng khác [61]. Đến thế kỷ XX, văn bia Hán Nôm đƣợc giới nghiên cứu khoa học quan tâm toàn diện hơn ở hai lĩnh vực sƣu tầm và nghiên cứu khai thác.
Việc sƣu tầm bia đƣợc tiến hành thông qua biện pháp in rập thành thác bản để sử dụng cho công tác lƣu trữ và nghiên cứu. Những năm đầu của thế kỷ XX, E.O đã tổ chức một đợt sƣu tập thác bản văn khắc Hán Nôm ở hơn 40 tỉnh trong phạm vi cả nƣớc. Sau nhiều năm triển khai, kết quả E.O đã thu thập đƣợc 11.651 đơn vị văn khắc với 20.980 mặt thác bản. Những con số tuy cụ thể mà vẫn cứ không chính xác bởi đã có ai từ trƣớc tới nay thống kê đƣợc từng triều đại bia đá có bao nhiêu, mất bao nhiêu và mất do nguyên nhân nào.
Ngay cả những con số mà chúng ta đƣợc biết trên cũng mới chỉ dựa vào bản rập có trong tầm tay do Trƣờng Viễn Đông Bác Cổ in rập trong vòng 25 năm (1920-1945). Công việc chƣa hoàn thành vì còn nhiều nơi chƣa rập hết hoặc chƣa rập, nhất là các tỉnh, các huyện, xã mà phƣơng tiện giao thông không thuận lợi. Tuy nhiên, công trình in rập giai đoạn này là cơ sở dữ liệu quan trọng cho nhiều công trình nghiên cứu văn bia Việt Nam về sau. Tình hình sƣu tầm văn bia từ năm 1945 đến nay.
Đảng và Nhà nƣớc từ lâu đã quan tâm tới việc sƣu tầm bảo vệ sách vở, tài liệu Hán Nôm, trong đó có văn bia, loại di vật dễ mất mát, trong khi không còn đƣợc sản xuất ra nữa. Sự quan tâm này thể hiện ngay từ khi Đảng ta còn hoạt động bí mật. Trong bài “Mấy nguyên tắc của cuộc vận động văn hoá mới Việt Nam hiện nay” đăng trên báo Đảng năm 1944, đồng chí Trƣờng Chinh viết: “những z công trình và tác phẩm văn hóa của thời phong kiến Việt Nam để lại là vốn quý của dân tộc ta, chúng ta cần phải giữ gìn và nghiên cứu, để phát huy cái hay cái đẹp…”[8, tr. Sau ngay giành đƣợc chính quyền, các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nƣớc ta nhƣ Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trƣờng Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng… mỗi khi có dịp, đều nhắc tới nhiệm vụ sƣu tầm, bảo vệ di sản văn hoá cha ông.
Công tác sƣu tầm, bảo vệ tài liệu Hán Nôm đƣợc Nhà nƣớc quan tâm lần lƣợt giao cho một số cơ quan chịu trách nhiệm. Khởi đầu là Bộ Văn hoá, với Chỉ thị số 117/TTg ngày 13-12-1963 của Thủ tƣớng Chính phủ. Cuối 1979, theo Quyết định số 326/CP ngày 13-9-1979 của Hội đồng Chính phủ, Viện nghiên cứu Hán Nôm thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam đƣợc thành lập và trở thành trung tâm sƣu tầm, bảo vệ, chỉnh lý, khai thác các tƣ liệu chữ Hán, chữ Nôm trong phạm vi cả nƣớc. Lần đầu tiên kể từ sau 1945, công tác sƣu tầm, bảo vệ thƣ tịch Hán Nôm đƣợc nhà nƣớc chính thức giao cho một Viện nghiên cứu chuyên ngành đảm trách.
Cho đến nay, qua nỗ lực nhiều năm của các cơ quan có trách nhiệm, công tác sƣu tầm, bảo vệ văn bia Hán Nôm đã thu đƣợc kết quả bƣớc đầu. Viện nghiên cứu Hán Nôm đã và đang tổ chức tiến hành điều tra cơ bản và thu thập các văn khắc Hán Nôm hiện có ở các địa phƣơng trong cả nƣớc. Đến năm 2008, Viện đã hoàn thành cơ bản việc sƣu tầm văn khắc Hán Nôm ở các địa phƣơng: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hƣng Yên, Hải Dƣơng, Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình; đang tiếp tục thực hiện ở một số địa phƣơng nhƣ: Thanh Hoá, Nghệ An. Kết quả khối lƣợng tƣ liệu văn khắc Hán Nôm đã đƣợc thu thập khoảng hơn 30.000 mặt thác bản.
Trong đó, bổ sung mới vào kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đƣợc nhiều đơn vị văn khắc Hán Nôm có giá trị mà lần sƣu tầm trƣớc đây chƣa kịp thu thập, z nhƣ hơn 30 văn khắc thời Lý - Trần, hơn 80 văn khắc khu vực phố Hiến (Hƣng Yên), nhiều văn khắc Hán Nôm vùng núi phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng, v.51] Hằng năm, Viện nghiên cứu Hán Nôm cùng các Sở Văn hóa ở các địa phƣơng lại sƣu tầm thêm nhiều văn bia có giá trị. Gần đây nhất đã sƣu tầm đƣợc 68 văn bia đá cổ - mang niên đại chủ yếu trong ba thế kỷ XVII, XVIII, XIX và nửa đầu thế kỷ XX - tại ba huyện Bình Xuyên, Lập Thạch và Tam Đảo của tỉnh Vĩnh Phúc [62]. Công tác sƣu tầm văn bia vẫn đƣợc tiếp tục với nhiều cuộc điều tra, sƣu tầm tại các địa phƣơng trong cả nƣớc, nhất là các tỉnh phía Nam. Những kết quả của việc sƣu tầm văn bia Hán Nôm là tiền đề cho các công trình nghiên cứu về văn bia ra đời và phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Việc sử dụng các tài liệu văn bia Hán Nôm để tìm hiểu lịch sử quá khứ đã đƣợc giới nghiên cứu ngày càng chú ý và nghiên cứu khai thác. Ngoài ra, trên các tạp chí nhƣ: Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Khảo cổ học, Văn học, Văn hóa nghệ thuật, Việt Nam truyền thống (tiếng Nga); Thông báo Hán Nôm học hàng năm, v.; đã công bố nhiều bài văn khắc vừa mới phát hiện và đăng tải nhiều bài viết nghiên cứu về văn khắc Hán Nôm Việt Nam. Những thành quả về công tác sƣu tầm và nghiên cứu văn khắc Hán Nôm ở trên, cho thấy đƣợc những giá trị phong phú của loại hình tƣ liệu này. Ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, văn khắc Hán Nôm là nguồn tƣ liệu rất có giá trị để tìm hiểu quá khứ dân tộc thuộc ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ: tƣ tƣởng chính trị xã hội, lịch sử, văn hóa, kinh tế, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ văn tự, v.
Các loại hình văn bia ở Việt Nam Kết quả của công tác sƣu tầm đã giúp chúng ta lƣu giữ đƣợc một số lƣợng thác bản văn bia đồ sộ với nội dung vô cùng phong phú. Các công trình nghiên cứu biên soạn thành sách đã đƣợc tiến hành trong suốt những năm qua. Để nghiên cứu một cách chuyên sâu, từng vấn đề của văn bia thì thật khó nếu không có sự phân chia chúng thành các loại hình văn bia khác nhau. Sẽ có rất nhiều loại hình văn bia khi xem xét chúng ở từng khía cạnh khác nhau của văn bia.
Khi căn cứ vào địa điểm dựng bia ta có loại hình bia chùa, bia đình, bia miếu, bia quán, bia đền, bia mộ ….; Khi căn cứ vào hình thức của bia có thể là bia vuông, bia tròn, bia tƣợng….; Khi căn cứ theo nội dung của bia thì có loại hình bia ghi công, bia ghi việc, bia ca ngợi (thuật đức), ….Nghiên cứu văn bia Hán Nôm Việt Nam cần xem xét một cách đầy đủ và hài hòa các loại hình trên. Cách phân chia loại hình văn bia nhiều ngƣời sử dụng đó là căn cứ vào nội dung văn bia phản ánh: Thứ nhất, là văn bia kiến trúc tu tạo: loại bia này chiếm số lƣợng lớn và có giá trị về mặt sử liệu, văn học khi nghiên cứu văn bia. Xã hội phong kiến Việt Nam xƣa, mỗi khi xây dựng hay tu sửa chùa, đình, đền, miếu, từ đƣờng, văn chỉ, hay làm đƣờng, xây cầu, mở chợ,…thì thƣờng lập bia hoặc khắc chuông, để ghi lại sự việc và ghi công những ngƣời hƣng công đóng góp.