mở đầu cho nghệ thuật kiến trúc. Thời kỳ vàng son rực rỡ thực sự của nền văn hóa Chăm, mặc dù chịu ảnh hƣởng của nghệ thuật Khơme tiền Ăngkor. Một thế kỷ sau, các tỉnh phía Nam áp đặc quyền bá chủ nhƣ hoạt động nghệ thuật hình nhƣ giảm xuống khi các cuộc tập kích của ngƣời Indonexia vào bán đảo đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển phật giáo và tái lập hệ thống ảnh hƣởng. Vào thế kỷ thứ IX một vài công trình nghệ thuật( hài hòa xác lập sự ra đời của nghệ thuật kiến trúc Chăm truyền thống và xuất hiện một phong cách mới.
Điêu khắc Chăm với phong cách tao nhã, sang trọng phóng khoáng mang đậm bản sắc dân tộc. Các tác phẩm nổi tiếng nhƣ; Đài thờ Mỹ Sơn E1, tƣợng Ganesa, đều thuộc giai đoạn nghệ thuật này. Và có niên đại chung vào cuối thế kỷ VIII. * Thời kỳ INDRAPURA( nửa cuối thế kỷ IX-X).
- Ngày nay trên dãy đất miền Trung, các Tháp Chàm vẫn còn sừng sững đứng trƣớc thiên nhiên và thời gian. Mặc dù nền văn minh Chăm Pa đã bị lãng quên trong khoảng thời gian khá dài và cuối cùng đƣợc biết đến nhƣ một viên ngọc của nền văn minh cổ Đông Nam Á. - Những di tích còn sót lại cho đến ngày nay kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận tuy rrays ít ỏi so với những gì vốn có của nó, nhƣng nền văn hóa Chăm Pa xứng đáng là một trong những nền văn hóa vào loại lớn nhất và có giá trị nhất Đông Nam Á thời Trung Cổ. b/ Những đặc tính cơ bản của văn hóa Chăm: - Văn hóa Chăm chịu ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ buổi đầu lập quốc Chăm Pa đã xây dựng cho mình một hệ thống quan quyền nhƣng chƣa xá lập một hệ thống thần quyền cho nên họ thờ các thần sơ khai của ngƣời Ấn Độ đứng đầu là thần Indra và vị thần của các thần.
Họ sùng bái các thần Ấn Độ giáo Siva, Brahma, Vinsu. - Siva thƣờng thờ cúng dƣới hình tƣợng thờ Linga-Yoni. Bên cạnh đó đạo phật cũng ảnh hƣởng tới Chăm.VŨ KHÔI 7 SVTH: BÙI MẠNH DƢƠNG THUYẾT MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KIẾN TRÚC SƯ KHÓA 2008-2013 BẢO TÀNG VĂN HÓA QUẢNG NAM - Đạo phật đƣợc truyền bá vào vƣơng quốc từ thế kỷ thứ VI-X phát triển nhất ở thế kỷ thứ IX găn với sự ra đời của phaatj viện Đông Dƣơng, phật viện lớn nhất Đông Nam Á và duy nhất của đất nƣớc. - Văn hóa Ấn Độ ảnh hƣởng vào Chăm Pa còn thể hiện ở việc đặt tên cho vùng lãnh thổ(Amaravati, Vijaya), tên gọi trong hoàng cung, hoàng tộc và sâu sắc nhất có lẽ là quần thể kiến trúc đền tháp.
- Văn hóa Chăm mang đậm nét sắc thái tôn giao ngƣời Chăm nào cũng mang cho mình một tôn giao riêng, tôn giao bao trùm lên toàn bộ ngƣời Chăm đồng thời lại chia họ thành những nhóm riêng theo các tôn giáo khác nhau in đậm nét văn hóa Chăm. - Ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ giáo: Ngƣời Chăm thờ các vị thần của Ấn Độ đứng đầu là Indra sùng bái tam vi thống thể. Siva, Brabma, trong đó thần Siva đƣợc đề cao hơn. - Các vƣơng triều xƣa của Chăm Pa cổ đại thƣờng lấy địa danh của Ấn Độ dặt tên cho vùng đất của mình.
- Văn tự, luật pháp, kiến trúc cũng ảnh hƣởng sâu sắc đến văn hóa Chăm, không phải là sự sao chép hay phản chiếu nguyên bản từ Ấn Độ mà chúng ta đã đƣợc bản địa,Chăm hóa. - Ảnh hƣởng của hồi giáo: có hai loại hồi giao của ngƣời Chăm, những ngƣời Chăm theo đạo hồi ở Ninh Thuận dƣới tên gọi là Chăm Bafni( hồi giao cũ), các lễ nghi Bần chịu ảnh hƣởng nguyên tắc luật lệ, luật hôn nhân và gia đình của các dân mẫu hệ. Còn ngƣời Chăm Châu Đốc và các tỉnh Nam Bộ gọi là hồi giáo mới, cổ tích chính thống hơn. - Ảnh hƣởng của phật giao: Đại thừa truyền bá vào Chăm Pa muộn hơn và ảnh hƣởng ngắn hơn so với Ấn Độ giáo, nhƣng cũng có dấu vết rõ rệt trong lịch sử văn hóa Chăm.
- Đặc biệt vào thế kỷ X, phật giáo đã ảnh hƣởng mạnh đến kiến trúc đền tháp và nghệ thuật điêu khắc. - Văn hóa Chăm Pa là văn hóa mẫu hệ, trong đại gia đình Việt Nam, ngƣời Chăm là dân tộc cò trình độ, kinh tế-xã hội phát triển khá cao, nhƣng còn lƣu giữ khá đậm nét. Trong sinh hoạt lối sống ứng xử, lễ nghi của xã hội, gia đình. Tuy tập tục cƣới xin, ma chay, trong tín ngƣỡng dân gian thờ cúng tổ tiên, thánh thần.
- Tín ngƣỡng xƣa những ngƣời Chăm liên quan đến truyền thuyết cổ đã là tín ngƣỡng đa thần. Trong đó nổi bật lên hình tƣợng ngƣời phụ nữ đƣợc tôn vinh là thần sản sinh ra các dòng họ trị vì đất nƣớc theo quan điểm của ngƣời Chăm,Ponƣnagar đã dạy cho ngƣời Chăm biết trồng lúa nƣớc, làm thủy lợi, dệt vải và sản xuất đồ gốm. Hiện nay còn rất nhiều đền tháp còn thờ bà, để làng nhớ đến công đức đối với ngƣời mẹ xứ sở có công sinh thành ra đát nƣớc.VŨ KHÔI 8 SVTH: BÙI MẠNH DƢƠNG THUYẾT MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KIẾN TRÚC SƯ KHÓA 2008-2013 BẢO TÀNG VĂN HÓA QUẢNG NAM - Văn hóa Chăm là sản phẩm thích ứng. Ai đã qua dải đồng bằng miền Trung đều cảm nhận ba yếu tố của định hình: Núi, biển và đồng bằng thƣờng đan xen lẫn nhau.
- Qua khai thác vùng này ngƣời Chăm đã tạo nên những yếu tố văn hóa: Đƣợc thể hiện trong hoạt động với một hệ thống thủy lợi cùng nhiều cấp. Bên cạnh đó ngƣơi Chăm cũng biết hòa mình vào biển cả trong hoạt động thực tiễn lẫn tâm linh, ngƣời Chăm giỏi nghề đi biển đanhhs bắt cá, biết rõ sự thay đổi của biển cả. - Ngày nay đại bộ phận dân tọc Chăm đã lùi vào đất liền và sống xa biển, những dấu ấn ngàn đời của nghề đánh bắt cá xƣa kia vẫn còn đó, yếu tố núi rừng cung thể hiện trong văn hóa Chăm, dựa lƣng nhƣng quay lƣng với núi, ngƣời Chăm đã khai thác để tận dụng phục vụ cho cuộc sống của mình để nhân loại biết đến Chăm Pa với những trầm hƣơng, kỳ nam, ngà voi. - Theo Gmaspero , vƣơng quốc Chăm Pa xƣa kia nổi tiếng nhiều sản vật, sử sách Trung Hoa đã ghi lại những sản phẩm của ngƣời Chăm triều cống hoặc buôn bán với các nƣớc phƣơng Bắc nhƣ: trầm hƣơng, quế, tiêu, ngà voi, sừng tê giác, đồi mồi.sách(thủy tinh chú)cho biết, ngƣời Chăm cổ biết trồng dâu nuôi tằm, rệt lụa, trồng bông, đay để dệt vải.
Họ sống chủ yếu bằng nghề nông, cung cấp lƣơng thực cho binh lính bằng lúa gạo. Họ giỏi nghề đi biển và đánh cá, biết rèn đúc công. - Vào năm 880 các vùng phía Bắc lắm ƣu thế vào giữa thế kỷ Indrapuara là kinh đô của vƣơng quốc. Đây là thời kỳ hoạt động nghệ thuật đích thực mặc dù mang dấu ấn của hai khu vực rất khác biệt.
Từ năm 875 việc xây dựng một quần thể lớn theo phái đại thừa Mâhayona ở Đông Dƣơng dẫn đến việc nảy nở của một phong cách mạnh mẽ liên quan đến tính cách to lớn hơn và vẻ đẹp của con ngƣời nhƣng dựa trên những phần đóng góp khác nhau Indonesia và Trung Quốc theo khuân mẫu với sự độc đáo kỳ dị. Một phần từ thế kỷ sau, trong khi vai trò của phật giáo, nền điêu khắc có vẻ nhiều hơn và trang trí nhẹ nhàng hơn. Vào thế kỷ X, trong nền kiến trúc tìm thấy sự cân đối cổ điển( Mỹ Sơn A),Trà Kiệu mang dấu ấn Indonesia và đƣợc thay thế bởi một ảnh hƣởng phù du của Ăngkor nó hoàn toàn bị ô nhiễm một sự nhục dục thầm kín và xuát hiện những điều trái ngƣợc với lý tƣởng của nghệ thuật phƣơng Đông. Từ cuối thế kỷ X, nghệ thuật Chăm đƣơng đầu với một nƣớc Việt Nam độc lập ở phía Bắc nên đã mất đi nhiều tính đặc thù của nó.
* Thời kỳ VIJAYA (100-1474): - Mặc dù có sự đe dọa ngày càng tăng với vƣơng quốc, vùng VIJAYA (Bình Định ngay nay), là mọi trung tâm của mọi hoạt động nghệ thuật sôi nổi từ TK XI-TK XII các điêu khắc đã tìm ra ở tháp Muôn đặc biệt là những sáng tạo về trang trí việc xác định một phong cách sẽ là đỉnh cao của nghệ thuật Chăm. Một áp dụng gia tăng từ campuchia đã dựa vào một GVHD: KTS.VŨ KHÔI 9 SVTH: BÙI MẠNH DƢƠNG THUYẾT MINH ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KIẾN TRÚC SƯ KHÓA 2008-2013 BẢO TÀNG VĂN HÓA QUẢNG NAM sự thống nhất mới của Khơme ( Hƣng thịnh), nhƣng lại dẫn đến việc chiến đấu của các quân đội Khơme vào xứ sở (1128-1220), do đó hoạt động nghệ thuật bị ngƣng lại và vƣơng quốc trở nên ngèo nàn sau cuộc thử thách, sự sụp đổ ngày càng nhanh hơn với sức đẩy không thể nào cản đƣợc của Việt Nam vào các cuộc nổi dậy của ngƣời Mông Cổ ( cuối thế kỷ XIII-TK XV), những công trình nghệ thuật đƣợc dựng lên ở các vùng bị đe dọa trở nên nặng nề hơn và ít trang trí. Nhƣng chính trong điều kiện sụp đổ đã xuất hiện nhanh nhất về cả mỹ thuật lẫn thẩm mỹ với những cách điệu hóa và biến dạng rất khó nghiên cứu(Yang Mun). * Thời kỳ muộn màng ( sau 1471): - Có lẽ đƣợc xây dựng vào thế kỷ XVI, tháp Prome là công trình cuối cùng có phong cách truyền thống và tất cả các đền đài về sau , các Bumong với kết cấu hỗn hợp, chịu ảnh hƣởng của nền kiến trúc Việt Nam các tƣợng thời kỳ này là biểu hiện của một quá trình thụt lùi đã khởi đầu từ lâu.
III/ Lý do, ý nghĩa, mục đích hình thành công trình Bảo tàng văn hóa Quảng Nam: - Di sản nghệ thuật nói chung là tài sản tinh hoa, là tài sản vô giá của một quốc gia, một dân tộc. Ở đây những di sản văn hóa kiến trúc nghệ thuật của ngƣời Chăm, phƣơng án xƣa để lại trên đất nƣớc ta cũng vậy, đó là những tinh hoa nghệ thuật, tài sản vô giá, đã biểu hiện trình độ phát triển, một nền vƣn minh rực rỡ của ngƣời Chăm xƣa. Qua một thời gian khá dài bị lãng quên và chịu ảnh hƣởng của nhiều biến cố lịch sử .Đến nay nền văn hóa, nghệ thuật kiến trúc Chăm, phƣơng án chỉ là những phế tích. Đƣợc sự quan tâm của Nhà nƣớc và chính phủ, những phế tích đó đang đƣợc trùng tu, phục hồi làm sống lại nền văn hóa một thời.
Điều đó làm cho di tích này trở thành một địa danh nổi tiếng , sẽ thu hút khách du lịch đến thăm quanvaf tìm hiểu nghiên cứu .