phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được phân thành 3 chương sau: Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Một số khái niệm cơ bản về: Di sản văn hóa, di tích, di tích lịch sử - văn hóa; khái niệm về đô thị hóa và quá trình đô thị hóa quận 2; khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước về di sản văn hóa; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích; tổng quan về quận 2 và hệ thống các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở quận 2 Nêu thực trạng hoạt động quản lý di tích ở Quận 2 từ bộ máy đến cơ cấu nhân sự, công tác triển khai quản lý nhà nước đối với di tích; đến hoạt động quản lý di tích của cộng đồng và hoạt động “xã hội hóa” công tác bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di tích; từ đó nêu nhận xét, đánh giá các hoạt động quản lý di tích trên địa bàn quận 2. 19 Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở quận 2. Từ thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận 2 với những tác động của quá trình đô thị hóa cả về mặt tích cực cũng như tiêu cực; trên cơ sở định hướng quản lý di sản văn hóa gắn với việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa của Trung ương và địa phương, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận 2 trong thời gian tới.
20 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Di sản văn hóa (trong đó có các di tích lịch sử văn hóa) được Đảng xác định là “tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa” [13]. Vì vậy, việc giữ gìn, tôn tạo các DSVH là trách nhiệm của cộng đồng, thể hiện lòng tri ân tiền nhân, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Đây cũng là nguồn lực vô cùng quý báu, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, cùng với việc đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di tích văn hóa lịch sử cũng được đặt ra ngay từ những năm đầu thành lập quận.
Nghiên cứu việc quản lý di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa quận 2, do đó, cần tìm hiểu các cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về quản lý văn hóa, về di tích lịch sử văn hóa, về bối cảnh lịch sử ra đời của quận 2, về đô thị hóa và quá trình đô thị hóa quận 2, cũng như tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận 2… Từ đó có những nhận xét đánh giá đúng đắn nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận.1 Khái niệm di sản văn hóa Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về di sản văn hóa. *Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris, ngày 16/11/1972 thì di sản văn hóa bao gồm: - Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học. 21 - Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan. - Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học” [78, Điều1].
*Theo quy định của Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 29/6/2001, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 thì: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Khái niệm di tích lịch sử văn hóa Theo Tự điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử.
Thuật ngữ di tích lịch sử văn hoá được dùng với nghĩa chung nhất, rộng nhất là các dấu tích, dấu vết còn lại trong lịch sử sáng tạo văn hoá của con người. 22 Di tích lịch sử – văn hóa không phải là toàn bộ hệ thống di sản văn hóa dân tộc, nhưng là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống di sản đó. Theo số liệu thống kê năm 2010, di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng. Các di tích này không những có giá trị lịch sử và văn hóa mà còn mang lại những giá trị lớn trên phương diện kinh tế, nhất là kinh tế du lịch.
Còn lại là các di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm hơn 40%, di tích khảo cổ và danh thắng chưa đến 5%. Loại hình di sản vật thể này trong một thời gian dài được coi là loại hình di sản quan trọng nhất vì chúng dễ dàng nhận biết nhất so với các di sản phi vật thể khác. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (2009), một công trình được coi là di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; c) công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [51]. Như vậy, di tích lịch sử - văn hóa là một công trình hay một địa điểm gắn với sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều thời kỳ lịch sử của đất nước.
Trong đó, di vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. Cổ vật được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở lên”. Bảo vật quốc gia được hiểu là “hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học”. Khái niệm đô thị và quá trình đô thị hóa Đô thị 23 Theo Luật Qui hoạch đô thị (2009), đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
Đô thị hóa Theo Guoming Wen (Trung Quốc), đô thị hoá là một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử tư liệu sản xuất và lối sống của con người từ nông thôn vào thành phố. Thường quá trình này được nhìn nhận như là sự di cư cùa nông dân nông thôn đến các đô thị và quá trình tiếp tục của bản thân các đô thị. Toshio Kuroda (Nhật Bản) cho rằng, đô thị hoá trên tổng số dân cư trú ở thành phố hoặc dựa trên quan điểm về các vùng có mật độ dân cư đông. Ở Nhật Bản do yêu cầu của việc tái thiết và tăng trưởng kinh tế, quá trình đô thị hoá diễn ra đặc biệt nhanh chóng từ cuối thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, do sự di chuyển của một lượng lớn dân số trẻ từ nông thôn ra thành thị, với mong muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Ở Việt Nam, đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ cao, đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội. Quá trình này vốn đã có từ lâu trong lịch sử nhưng thật sự tăng tốc từ những năm đổi mới, 1986 đến nay. Tốc độ đô thị hoá càng về sau càng lớn. Tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước, khái niệm đô thị hoá được đề cập có thể chưa giống nhau, nhưng thống nhất ở chỗ có hai thành tố luôn được nhắc tới: 24 Một là, đô thị hoá là sự tăng lên của cư dân đô thị.
Sự tăng lên này theo ba dòng chính: sự tăng dân số tự nhiên của cư dân đô thị, dòng di dân từ nông thôn ra thành thị và điều chỉnh về biên giới lãnh thổ hành chính của đô thị.