Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án (cơ quan tài phán công do Nhà nước thành lập) và Trọng tài thương mại (cơ quan tài phán tư do các bên thỏa thuận lựa chọn) là hai phương thức song hành tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Thẩm quyền của Trọng tài thương mại bị giới hạn do bản chất phi chính phủ, đặc biệt trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) đối với bên thứ ba, triệu tập người làm chứng, thu thập tài liệu chứng cứ và thiếu bộ máy cưỡng chế thi hành phán quyết. Để bảo đảm quyền lợi của các bên, pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia ghi nhận thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài.
Tại Việt Nam, cơ chế hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại được ghi nhận trong Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTTTM 2010), Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01/2014) và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015). Tuy nhiên, các quy định này còn phân tán, thiếu đồng bộ và tồn tại điểm chưa tương thích với Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài cũng như Luật Mẫu UNCITRAL năm 1985 (sửa đổi năm 2006). Thực tiễn áp dụng của Tòa án Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc, dẫn đến chỉ số xếp hạng về chất lượng giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của Tòa án chưa cao. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng phương thức Trọng tài thương mại ngày 02/10/2019, việc triển khai trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Do đó, luận án lựa chọn nghiên cứu toàn diện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Luận giải khái niệm, đặc điểm và nội dung của thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại;
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam, chỉ ra những bất cập và vướng mắc trong mối tương quan so sánh quốc tế;
- Đánh giá thực tiễn thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài;
- Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật quốc tế để rút ra bài học cho Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao năng lực thực thi của Tòa án Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án giải quyết 04 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại là gì? Thẩm quyền này có đặc điểm, nội dung như thế nào và vì sao cần có quy định pháp luật điều chỉnh?
- Câu hỏi 2: Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài? Quy định đó có phù hợp với Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL không?
- Câu hỏi 3: Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại hiện nay diễn ra như thế nào? Những bất cập, khó khăn và vướng mắc cụ thể là gì?
- Câu hỏi 4: Cần có những giải pháp nào để sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam, dựa trên cơ sở khoa học nào?
Tương ứng với 04 câu hỏi là 04 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Quan niệm về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại chưa thực sự rõ ràng; thẩm quyền này là quyền lực của Tòa án trong việc giải quyết các yêu cầu của đương sự hoặc Hội đồng trọng tài nhằm trợ giúp hoạt động trọng tài trong và ngoài nước; cần có quy định pháp luật để ấn định nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.
- Giả thuyết 2: Pháp luật Việt Nam về cơ bản tương thích với chuẩn mực quốc tế nhưng vẫn còn nhiều điểm bất cập, quy định rời rạc và chưa cụ thể.
- Giả thuyết 3: Thực tiễn thực hiện thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với cả trọng tài trong nước và nước ngoài còn nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa có cơ chế khắc phục triệt để.
- Giả thuyết 4: Cần ban hành các giải pháp đồng bộ về sửa đổi lập pháp và tổ chức thực thi để nâng cao hiệu lực hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế (Công ước New York 1958, Luật Mẫu UNCITRAL 1985/2006) và pháp luật của một số quốc gia (Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức, Singapore, Hồng Kông) về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại; các quan điểm lý luận và thực tiễn áp dụng tại Tòa án Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 09 nhóm thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án theo Điều 6, khoản 2 Điều 7 LTTTM 2010 và khoản 5 Điều 31 BLTTDS 2015:
- Thẩm quyền từ chối thụ lý vụ án khi có thỏa thuận trọng tài;
- Thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên (TTV) cho Hội đồng trọng tài vụ việc;
- Thẩm quyền thay đổi TTV của Hội đồng trọng tài vụ việc;
- Thẩm quyền thu thập chứng cứ theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài;
- Thẩm quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT;
- Thẩm quyền triệu tập người làm chứng;
- Thẩm quyền đăng ký phán quyết trọng tài (PQTT) vụ việc;
- Thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy PQTT trong nước;
- Thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2003 (thời điểm ban hành Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 - PLTTTM 2003) đến năm 2021.
- Phạm vi không gian: Hệ thống Tòa án tại Việt Nam, đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế và pháp luật tố tụng trọng tài của một số quốc gia. Luận án không nghiên cứu các điều ước quốc tế song phương và đa phương khác ngoài Công ước New York 1958.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo các nhóm nội dung chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu về lý luận trọng tài và thẩm quyền tư pháp:
- Các công trình quốc tế như Fouchard Gaillard Goldman on International Commercial Arbitration (E. Gaillard và J. Savage), International Commercial Arbitration của Gary B. Born, và giáo trình của Andrew Tweeddale & Keren Tweeddale đã xác lập bản chất trọng tài là cơ quan tài phán tư dựa trên sự thỏa thuận của các bên.
- Về thẩm quyền tư pháp và phân định chức năng hỗ trợ, các tác giả Hong-lin Yu, Jan K. Schaefer, Jean-Louis Delvolvé & Gerald H. Pointon, Julian D.M. Lew & Loukas A. Mistelis, Anselmo Reyes & Weixia Gu đã luận giải mối quan hệ giữa Tòa án quốc gia và trọng tài.
- Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dung, Võ Khánh Vinh phân tích quyền tư pháp; Đào Trí Úc, Nguyễn Thị Yến, Phạm Thị Hồng Đào, Trần Hữu Huỳnh, Tưởng Duy Lượng, Phan Thông Anh làm rõ sự cần thiết và ranh giới giữa thẩm quyền hỗ trợ và thẩm quyền giám sát của Tòa án.
Nhóm nghiên cứu về các nội dung hỗ trợ cụ thể:
- Về BPKCTT, các công trình của Đặng Thị Minh Ngọc, Phan Gia Quý phân tích phạm vi hỗ trợ khẩn cấp của Tòa án.
- Về hủy PQTT và thi hành phán quyết, các tác giả Đỗ Văn Đại, Phan Thông Anh, Đặng Hoàng Oanh, Nguyễn Trung Tín, Vũ Ánh Dương, cùng các ấn phẩm của Viện Khoa học xét xử (TANDTC) và tài liệu của Ban Thư ký UNCITRAL đã phân tích các căn cứ pháp lý và thực tiễn xét xử.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy:
- Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và chuyên sâu về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại bao quát cả trọng tài trong nước và trọng tài nước ngoài;
- Cơ sở lý luận về phân định giữa thẩm quyền hỗ trợ tư pháp và thẩm quyền giám sát của Tòa án còn nhiều quan điểm trái chiều chưa được phân tích thấu đáo;
- Thiếu các nghiên cứu đánh giá có hệ thống thực trạng áp dụng 09 nhóm thẩm quyền hỗ trợ của Tòa án theo LTTTM 2010 và BLTTDS 2015;
- Chưa có hệ thống giải pháp hoàn thiện mang tính tổng thể gắn kết giữa sửa đổi quy phạm pháp luật và tổ chức thực thi tại Tòa án các cấp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án sử dụng các học thuyết pháp lý nền tảng:
- Lý thuyết về quyền tự do thỏa thuận của các bên (Party autonomy): Giải thích nguồn gốc thẩm quyền của trọng tài xuất phát từ ý chí của đương sự, đồng thời chỉ ra giới hạn tự nhiên của trọng tài khi không thể ban hành phán quyết hay mệnh lệnh cưỡng chế đối với người thứ ba, từ đó tạo ra nhu cầu hỗ trợ tư pháp từ Tòa án.
- Lý thuyết về quyền tài phán của Tòa án quốc gia (Jurisdictional theory): Xác định tố tụng trọng tài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nơi có địa điểm giải quyết tranh chấp (seat of arbitration); Tòa án quốc gia thực hiện quyền lực công để hỗ trợ và kiểm soát tố tụng trọng tài diễn ra trên lãnh thổ.
- Lý thuyết về nguyên tắc xét xử một lần (Res judicata): Khẳng định tính chung thẩm của phán quyết trọng tài; Tòa án khi thực hiện hỗ trợ tư pháp không xét xử lại nội dung tranh chấp mà chỉ hỗ trợ thủ tục và bảo đảm hiệu lực thi hành.
- Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật (Legal theory): Luận giải chức năng, bản chất của quyền tư pháp và sự tác động của các quan hệ kinh tế - thương mại đối với sự phát triển của hệ thống quy phạm tố tụng tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích, luận giải và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt 4 chương để làm rõ các khái niệm, quy định pháp luật và đánh giá nguyên nhân của các bất cập.
- Phương pháp hệ thống hóa: Sử dụng tại Chương 1 để tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước.
- Phương pháp luật học so sánh: Sử dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 nhằm so sánh pháp luật Việt Nam với Luật Mẫu UNCITRAL 1985/2006, Công ước New York 1958, và pháp luật của Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Đức, Singapore, Hồng Kông.
- Phương pháp phân tích tình huống (Case study): Phân tích các quyết định, bản án cụ thể của Tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các yêu cầu hỗ trợ trọng tài để chỉ ra vướng mắc thực tiễn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức TAND 2014, LTTTM 2010, BLTTDS 2015, PLTTTM 2003, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.
- Văn bản pháp lý quốc tế: Công ước New York 1958, Luật Mẫu UNCITRAL 1985/2006, Quy tắc Trọng tài UNCITRAL, Federal Arbitration Act (FAA - Hoa Kỳ), Zivilprozessordnung (ZPO - Đức).
- Báo cáo số liệu thực tế: Dữ liệu thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2012–2019 và 2015–2019.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Luận án
Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về trọng tài thương mại và vai trò hỗ trợ của Tòa án. Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trước đây chỉ phân tích đơn lẻ một số khía cạnh (như áp dụng BPKCTT hoặc hủy PQTT) mà chưa nghiên cứu một cách có hệ thống toàn bộ 09 thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam. Chương này cũng xác định rõ 04 câu hỏi nghiên cứu, 04 giả thuyết nghiên cứu, các lý thuyết nền tảng và tiếp cận liên ngành giữa Luật học, Kinh tế học và Tư pháp học.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng:
- Thẩm quyền tư pháp của Tòa án (nghĩa hẹp): Quyền lực của Tòa án nhân danh Nhà nước thực hiện quyền xét xử và các thẩm quyền khác theo thủ tục tố tụng do luật định để giải quyết tranh chấp, bảo vệ công lý và trật tự pháp luật (Điều 102 Hiến pháp 2013, Điều 2 Luật Tổ chức TAND 2014).
- Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp đối với TTTM: Việc Tòa án nhân danh Nhà nước thực hiện quyền xét xử và các quyền tố tụng khác để giúp đỡ, trợ giúp trọng tài thông qua giải quyết các yêu cầu tố tụng của đương sự hoặc Hội đồng trọng tài nhằm bảo đảm quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra công bằng, hiệu quả.
Luận án phân định rõ giữa thẩm quyền hỗ trợ tư pháp và thẩm quyền giám sát của Tòa án:
| Tiêu chí phân biệt |
Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp |
Thẩm quyền giám sát tư pháp |
| Cơ chế kích hoạt |
Chỉ thực hiện khi có yêu cầu cụ thể của đương sự hoặc Hội đồng trọng tài. |
Kích hoạt theo đơn yêu cầu/khiếu nại của đương sự; Tòa án có thể chủ động xác minh theo luật định (ví dụ: vi phạm nguyên tắc cơ bản). |
| Phạm vi xem xét |
Tòa án giới hạn nghiêm ngặt trong phạm vi nội dung được yêu cầu, không tự ý mở rộng. |
Tòa án kiểm tra tính hợp pháp, tính đúng đắn về mặt thủ tục và thẩm quyền của Hội đồng trọng tài. |
| Hệ quả pháp lý |
Giúp tháo gỡ bế tắc thủ tục, duy trì tiến độ giải quyết tranh chấp tại trọng tài. |
Có thể dẫn đến việc vô hiệu hóa quyết định của Hội đồng trọng tài, đình chỉ tố tụng trọng tài hoặc hủy bỏ PQTT. |
Tác giả xác lập 04 đặc điểm của thẩm quyền hỗ trợ tư pháp:
- Tòa án chỉ thực thi khi đương sự hoặc Hội đồng trọng tài có yêu cầu hợp pháp để khắc phục các giới hạn mang tính chất tự nhiên của cơ quan tài phán tư;
- Thẩm quyền bị giới hạn bởi không gian (quốc gia nơi tiến hành trọng tài/nơi có tài sản), thời gian và quy định luật định;
- Mang lại lợi ích cho cả quá trình tố tụng, các bên tranh chấp và Hội đồng trọng tài;
- Thủ tục giải quyết được rút gọn, diễn ra nhanh chóng nhằm bảo đảm không làm gián đoạn hay trì hoãn tiến trình tố tụng trọng tài.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại
Chương 3 phân tích quy định hiện hành và thực tế áp dụng tại Tòa án Việt Nam đối với các nhóm thẩm quyền hỗ trợ tư pháp:
1. Nhóm thẩm quyền trước khi bắt đầu và trong quá trình tố tụng trọng tài:
- Từ chối thụ lý khi có thỏa thuận trọng tài: Tòa án có trách nhiệm kiểm tra hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo Điều 6 LTTTM 2010. Thực tiễn còn phát sinh vướng mắc khi Tòa án thụ lý vụ án do chưa thống nhất cách giải thích về "thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được".
- Chỉ định và thay đổi Trọng tài viên vụ việc: Quy định tại khoản 2 Điều 7 LTTTM 2010 giúp tháo gỡ bế tắc khi một bên không chỉ định TTV, nhưng thủ tục còn thiếu biểu mẫu hướng dẫn cụ thể.
- Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT: Điều 48 và Điều 53 LTTTM 2010 ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa Tòa án và Hội đồng trọng tài còn chậm trễ, quy định về biện pháp bảo đảm tài chính chưa linh hoạt.
- Thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng: Điều 46 và Điều 47 LTTTM 2010 quy định Tòa án hỗ trợ theo đề nghị của Hội đồng trọng tài, nhưng thời hạn thực hiện của Tòa án chưa được ấn định chặt chẽ, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ kiện.
- Đăng ký PQTT vụ việc: Đăng ký tại Tòa án theo Điều 62 LTTTM 2010 nhằm tạo thuận lợi cho việc thi hành án, nhưng thủ tục mang nặng tính hành chính.
2. Nhóm thẩm quyền liên quan đến thi hành phán quyết trọng tài:
- Hủy PQTT trong nước: Quy định tại Điều 68 LTTTM 2010 còn bất cập ở căn cứ "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam", dẫn đến nguy cơ Tòa án xem xét lại nội dung vụ tranh chấp.
- Công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài: Quy định tại Phần thứ bảy BLTTDS 2015 đã tiệm cận Công ước New York 1958 nhưng thực tiễn xét xử tại các Tòa án địa phương cho thấy tỷ lệ từ chối công nhận còn ở mức cao do cách hiểu chưa thống nhất về thông báo hợp lệ và trật tự công cộng.
Luận án tổng hợp số liệu thực tiễn thông qua các bảng thống kê:
- Bảng 3.1: Số lượng yêu cầu liên quan việc Trọng tài Thương mại Việt Nam được các Tòa án thụ lý và giải quyết từ năm 2015 đến năm 2019.
- Bảng 3.2: Kết quả giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn từ 01/01/2012 đến 30/09/2019.
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại
Chương 4 đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Phương hướng: Bảo đảm tính tương thích với Luật Mẫu UNCITRAL 1985/2006 và Công ước New York 1958; phân định minh bạch thẩm quyền hỗ trợ và thẩm quyền giám sát; tôn trọng tối đa quyền tự do thỏa thuận của các bên và tính chung thẩm của phán quyết trọng tài.
- Giải pháp lập pháp:
- Sửa đổi LTTTM 2010 và BLTTDS 2015 nhằm chuẩn hóa các khái niệm, quy định rõ thời hạn và trình tự Tòa án giải quyết yêu cầu thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, áp dụng BPKCTT;
- Làm rõ và thu hẹp nội hàm căn cứ "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" trong việc hủy hoặc từ chối công nhận PQTT;
- Hoàn thiện quy định về hỗ trợ tư pháp đối với trọng tài nước ngoài có địa điểm giải quyết tranh chấp tại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 01/2014.
- Giải pháp thực thi:
- Xây dựng các Tòa chuyên trách về kinh doanh thương mại và trọng tài;
- Tăng cường tập huấn chuyên môn, chuẩn hóa nghiệp vụ cho Thẩm phán về pháp luật trọng tài quốc tế;
- Thiết lập cơ chế phối hợp thông tin trực tiếp giữa Tòa án, các Trung tâm trọng tài (như VIAC) và Cơ quan Thi hành án dân sự (THADS);
- Công khai, minh bạch các bản án, quyết định liên quan đến hoạt động hỗ trợ và giám sát trọng tài để hình thành án lệ thống nhất.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận giải có hệ thống khái niệm, bản chất pháp lý và 04 đặc điểm cốt lõi của thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại trong nền kinh tế thị trường;
- Xác lập các tiêu chí khoa học để phân biệt giữa thẩm quyền hỗ trợ tư pháp (mang tính trợ giúp thủ tục theo yêu cầu) và thẩm quyền giám sát tư pháp (mang tính kiểm soát tính hợp pháp và có thể chủ động theo luật định);
- Luận giải cơ sở lý luận về sự cần thiết của sự can thiệp có giới hạn từ Tòa án nhằm bù đắp những thiếu hụt quyền lực công của trọng tài thương mại dựa trên hệ thống học thuyết pháp lý (Party autonomy, Jurisdictional theory, Res judicata).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phân tích thực trạng toàn diện 09 nhóm thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam theo LTTTM 2010 và BLTTDS 2015, chỉ rõ các điểm xung đột, chồng chéo và chưa tương thích với Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL;
- Đánh giá bức tranh thực tiễn xét xử giai đoạn 2012–2019 thông qua số liệu cụ thể về giải quyết đơn yêu cầu hỗ trợ trọng tài và đơn yêu cầu công nhận, cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài;
- Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp chi tiết nhằm sửa đổi LTTTM 2010, BLTTDS 2015 và các giải pháp tổ chức nâng cao năng lực cho hệ thống Tòa án nhân dân các cấp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định trong khuôn khổ LTTTM 2010, BLTTDS 2015, Công ước New York 1958 và Luật Mẫu UNCITRAL; không mở rộng sang các điều ước quốc tế song phương hoặc các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia (như CPTPP, EVFTA, EVIPA);
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê xét xử của Tòa án được giới hạn nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2021.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu cơ chế hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam trong bối cảnh giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo các cam kết tại EVFTA, CPTPP và EVIPA;
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tiễn sau khi sửa đổi, bổ sung Luật Trọng tài Thương mại 2010 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 trong giai đoạn mới.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp (Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao): Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung LTTTM 2010, BLTTDS 2015 và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật;
- Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Tài liệu tham khảo trong việc xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết các yêu cầu hỗ trợ trọng tài thương mại trong nước và nước ngoài;
- Trọng tài viên, Luật sư và Doanh nghiệp: Cung cấp hiểu biết toàn diện về quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ tố tụng (thu thập chứng cứ, áp dụng BPKCTT, triệu tập người làm chứng) nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong quá trình giải quyết tranh chấp;
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ giảng dạy, học tập chuyên sâu môn Luật Tố tụng Dân sự, Luật Trọng tài Thương mại và Luật Thương mại Quốc tế tại các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành Luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại được hiểu như thế nào?
Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án đối với trọng tài thương mại là việc Tòa án, với tư cách cơ quan tư pháp công quyền của Nhà nước, thực hiện quyền xét xử và các quyền năng tố tụng theo luật định để giải quyết các yêu cầu hỗ trợ của đương sự hoặc Hội đồng trọng tài. Mục đích là trợ giúp quá trình tố tụng trọng tài diễn ra công bằng, hiệu quả và bảo đảm hiệu lực thi hành của các thỏa thuận cùng phán quyết trọng tài.
2. Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp khác thẩm quyền giám sát tư pháp của Tòa án ở những điểm cốt lõi nào?
Thẩm quyền hỗ trợ tư pháp chỉ được kích hoạt khi có yêu cầu cụ thể từ đương sự hoặc Hội đồng trọng tài, Tòa án giải quyết đúng phạm vi yêu cầu nhằm tháo gỡ khó khăn về mặt thủ tục mà không can thiệp vào nội dung tranh chấp. Ngược lại, thẩm quyền giám sát cho phép Tòa án kiểm tra tính hợp pháp của tố tụng trọng tài, có quyền chủ động xác minh vi phạm theo luật định và hệ quả có thể làm vô hiệu hóa quyết định của Hội đồng trọng tài hoặc hủy bỏ PQTT.
3. Tòa án Việt Nam có những nhóm thẩm quyền hỗ trợ tư pháp cụ thể nào đối với trọng tài thương mại?
Theo LTTTM 2010 và BLTTDS 2015, Tòa án có 09 nhóm thẩm quyền hỗ trợ:
- Từ chối thụ lý vụ án khi có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực;
- Chỉ định TTV cho Hội đồng trọng tài vụ việc;
- Thay đổi TTV của Hội đồng trọng tài vụ việc;
- Thu thập chứng cứ;
- Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT;
- Triệu tập người làm chứng;
- Đăng ký PQTT vụ việc;
- Giải quyết yêu cầu hủy PQTT trong nước;
- Giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành PQTT nước ngoài tại Việt Nam.
4. Đâu là vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn Tòa án xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại Việt Nam?
Vướng mắc lớn nhất là việc giải thích và áp dụng căn cứ hủy PQTT "trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam" (điểm đ khoản 2 Điều 68 LTTTM 2010). Do nội hàm khái niệm này chưa được quy định thật sự rõ ràng và thống nhất, trên thực tế một số Tòa án có xu hướng xem xét lại nội dung bản chất tranh chấp đã được Hội đồng trọng tài giải quyết, làm ảnh hưởng đến nguyên tắc xét xử một lần và tính chung thẩm của phán quyết trọng tài.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về thẩm quyền hỗ trợ tư pháp của Tòa án Việt Nam đối với trọng tài thương mại. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, phân định chức năng hỗ trợ và giám sát tư pháp, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử giai đoạn 2012–2019. Các giải pháp lập pháp và tổ chức thực thi được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Tòa án và trọng tài thương mại tại Việt Nam.