Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh BĐS

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế nghiên cứu pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản, phân tích thực trạng và giải pháp.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư bất động sản

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản giữ vai trò then chốt đối với thị trường địa ốc. Đây là quá trình chuyển giao quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên tham gia giao dịch. Hoạt động này vừa thúc đẩy lưu thông tài nguyên đất, vừa tạo điều kiện huy động nguồn lực tài chính lớn cho nền kinh tế. Pháp luật về kinh doanh bất động sản và Luật Đất đai cùng điều chỉnh quan hệ pháp lý này. Cơ chế quản lý nhà nước bảo đảm mọi giao dịch diễn ra an toàn, minh bạch và ổn định. Thị trường quyền sử dụng đất có tính đặc thù cao do đất đai là tài nguyên khan hiếm và có giá trị lớn. Nếu thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, thị trường rất dễ phát sinh bong bóng giá và tình trạng đầu cơ trục lợi. Do đó, hệ thống quy phạm pháp luật cần thiết lập các tiêu chuẩn rõ ràng về điều kiện chuyển nhượng, nghĩa vụ tài chính và đăng ký biến động. Việc nghiên cứu lý luận pháp luật giúp làm sáng tỏ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh. Đây là cơ sở cốt lõi để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển thị trường bền vững.

1.1. Khái niệm và đặc điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản là hành vi chuyển giao quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác thông qua hợp đồng có đền bù. Hoạt động này nhằm mục đích sinh lời hoặc phục vụ việc phát triển các dự án bất động sản thương mại. Đặc điểm nổi bật của quan hệ giao dịch là sự tham gia bắt buộc của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản. Hàng hóa giao dịch mang tính khan hiếm và có giá trị kinh tế đặc biệt lớn. Mọi thỏa thuận đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về mục đích sử dụng đất, quy hoạch hạ tầng và quy chuẩn kỹ thuật xây dựng do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

1.2. Vai trò điều tiết của pháp luật đối với thị trường đất đai

Pháp luật đóng vai trò thiết lập khung hành lang an toàn nhằm bảo vệ trật tự kinh tế và quyền lợi của các nhà đầu tư. Cơ chế pháp lý giúp công khai hóa thông tin đất đai, giảm thiểu rủi ro tranh chấp và ngăn chặn hiện tượng lũng đoạn thị trường. Đồng thời, pháp luật quy định cụ thể các nghĩa vụ thuế, phí và lệ phí nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước từ hoạt động kinh doanh quyền sử dụng đất. Các chính sách điều tiết vĩ mô kiểm soát nguồn cung - cầu, hỗ trợ phân bổ tài nguyên đất hiệu quả và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc thực thi pháp luật nghiêm minh góp phần ổn định an sinh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.

II. Bất cập pháp lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi đầu tư BĐS

Thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Sự thiếu đồng bộ giữa Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đầu tư tạo ra nhiều rào cản hành chính phức tạp. Các tiêu chí xác định điều kiện chuyển nhượng dự án còn mang tính định tính, khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi xin phê duyệt. Tình trạng chuyển nhượng dự án ngầm thông qua hình thức ủy quyền hoặc mua bán cổ phần diễn ra phổ biến nhằm né tránh nghĩa vụ thuế. Ngoài ra, phương pháp định giá đất cụ thể để tính tiền sử dụng đất còn nhiều bất cập, dẫn đến thất thoát ngân sách hoặc kéo dài thời gian triển khai dự án. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thực tế thường thiếu các điều khoản bảo vệ người mua thứ cấp, làm gia tăng nguy cơ tranh chấp dân sự kéo dài. Cơ chế thanh toán giao dịch chưa gắn chặt với hệ thống ngân hàng thương mại, tạo kẽ hở cho hành vi trốn thuế và rửa tiền. Những hạn chế này làm suy giảm tính minh bạch của thị trường và giảm sút niềm tin của nhà đầu tư.

2.1. Sự chồng chéo trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất tồn tại nhiều xung đột giữa các đạo luật chuyên ngành. Trình tự chấp thuận chủ trương đầu tư và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường có quy định mâu thuẫn về thẩm quyền xét duyệt giữa các cơ quan hành chính. Việc xác định điều kiện hoàn thành nghĩa vụ tài chính trước khi chuyển nhượng dự án chưa được hướng dẫn thống nhất. Nhiều địa phương áp dụng các tiêu chí khác nhau, làm phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết. Hệ quả là nhiều dự án bất động sản bị đình trệ kéo dài, gây ứ đọng dòng vốn lớn của doanh nghiệp và làm lãng phí nghiêm trọng nguồn lực đất đai của quốc gia.

2.2. Vướng mắc trong thanh toán và thực hiện nghĩa vụ tài chính

Cơ chế thanh toán trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn tồn tại nhiều lỗ hổng quản lý. Hiện tượng kê khai giá trị hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn nhiều so với giá thị trường diễn ra tràn lan nhằm trốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp và lệ phí trước bạ. Bên cạnh đó, việc định giá đất phục vụ tính tiền sử dụng đất và giải phóng mặt bằng còn thiếu tính thị trường, gây tranh chấp phức tạp giữa chủ đầu tư và người sử dụng đất cũ. Quy định về việc bắt buộc thanh toán qua tài khoản ngân hàng đối với các giao dịch bất động sản thương mại chưa được giám sát chặt chẽ. Tình trạng này cản trở nỗ lực minh bạch hóa dòng tiền và kiểm soát thất thu ngân sách nhà nước.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất BĐS

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản đòi hỏi giải pháp đồng bộ và căn cơ. Trước hết, các cơ quan lập pháp cần nhanh chóng rà soát và loại bỏ những điểm xung đột giữa Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Việc chuẩn hóa quy trình chuyển nhượng dự án theo cơ chế một cửa liên thông sẽ cắt giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần thiết lập cơ sở dữ liệu số hóa quốc gia về đất đai để công khai thông tin quy hoạch và giá giao dịch thực tế. Cơ chế định giá đất phải bám sát nguyên tắc thị trường thông qua các tổ chức thẩm định giá độc lập nhằm hạn chế tiêu cực. Ngoài ra, việc quy định bắt buộc giao dịch và thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng sẽ ngăn chặn hiệu quả hành vi gian lận thuế. Tăng cường chế tài xử phạt vi phạm hành chính và hình sự đối với các hành vi kinh doanh bất động sản trái phép cũng là yêu cầu cấp thiết.

3.1. Thống nhất và minh bạch quy chuẩn pháp lý dự án

Hoàn thiện các quy định về điều kiện chuyển nhượng dự án đầu tư bất động sản gắn liền với quyền sử dụng đất là giải pháp trọng tâm. Luật Kinh doanh bất động sản cần quy định cụ thể mức độ hoàn thành hạ tầng kỹ thuật và giải phóng mặt bằng trước khi cho phép chuyển nhượng. Thủ tục chấp thuận chuyển nhượng dự án cần được tinh gọn, phân cấp rõ ràng cho chính quyền địa phương nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ địa chính giúp công khai quy hoạch và ngăn chặn tình trạng một dự án bị chuyển nhượng nhiều lần. Những cải cách này tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch và bảo vệ an toàn vốn đầu tư.

3.2. Cải cách chính sách tài chính và phương pháp định giá đất

Cải cách chính sách tài chính đất đai là điều kiện tiên quyết để lành mạnh hóa thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nhà nước cần hoàn thiện khung phương pháp định giá đất dựa trên cơ sở thị trường, hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính chủ quan. Bảng giá đất cần được cập nhật thường xuyên theo biến động thực tế nhằm đảm bảo tính công bằng trong thu tiền sử dụng đất và đền bù giải tỏa. Song song đó, chính sách thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần được điều chỉnh linh hoạt để điều tiết đầu cơ và khuyến khích phát triển dự án thực tế. Việc bắt buộc giao dịch qua ngân hàng sẽ tạo lập sự minh bạch tuyệt đối về dòng tiền trong thị trường.

IV. Ứng dụng nghiên cứu pháp luật chuyển nhượng quyền sử dụng đất BĐS

Nghiên cứu pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác lập pháp và sửa đổi các văn bản luật chuyên ngành. Các đề xuất trong luận văn giúp cơ quan quản lý nhà nước nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát và phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh địa ốc. Đối với các doanh nghiệp, việc nắm vững các quy định pháp luật giúp xây dựng chiến lược kinh doanh an toàn, tối ưu hóa chi phí pháp lý và phòng ngừa rủi ro tranh chấp hợp đồng. Đối với người tiêu dùng và nhà đầu tư cá nhân, hệ thống pháp lý hoàn thiện tạo niềm tin vững chắc khi tham gia các giao dịch bất động sản. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu học thuật và thực tiễn hành nghề luật kinh tế sẽ thúc đẩy thị trường quyền sử dụng đất phát triển công khai, minh bạch và đóng góp tích cực vào sự thịnh vượng kinh tế quốc gia.

4.1. Định hướng cho hoạt động lập pháp và quản lý thị trường

Các phát hiện từ đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật kinh tế cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén cho công tác xây dựng chính sách đất đai. Nghiên cứu chỉ rõ các khoảng trống pháp luật trong việc kiểm soát dòng vốn đầu tư và quy trình thẩm định dự án bất động sản. Cơ quan lập pháp có thể tham khảo các kiến nghị để hoàn thiện Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, cơ quan quản lý đô thị có thêm giải pháp kiểm soát tình trạng đầu cơ, ngăn chặn sốt đất ảo và phân bổ quỹ đất công bằng cho các dự án nhà ở xã hội.

4.2. Khuyến nghị thực thi dành cho doanh nghiệp đầu tư bất động sản

Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cần chủ động thiết lập bộ phận kiểm soát rủi ro pháp lý chuyên sâu trong hoạt động mua bán và chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trước khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp phải rà soát kỹ tính pháp lý của thửa đất, tình trạng quy hoạch và nghĩa vụ tài chính liên quan. Việc xây dựng hợp đồng chuyển nhượng cần quy định chi tiết về tiến độ thanh toán, chế tài phạt vi phạm và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại. Bên cạnh đó, việc tuân thủ quy chuẩn bảo lãnh ngân hàng và công khai thông tin dự án sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín thương hiệu, thu hút nguồn vốn đầu tư bền vững và phòng ngừa rủi ro tố tụng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths chuyên ngành luật kinh tế pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM 1. Lý luận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản 1. Khái niệm đầu tư kinh doanh bất động sản Kinh doanh BĐS là loại hình kinh doanh không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường. Ở nước ta, đầu tư kinh doanh BĐS chính thức được ghi nhận trong Luật Kinh doanh BĐS năm 2006 và được kế thừa trong Luật Kinh doanh BĐS năm 2014.

Vậy đầu tư kinh doanh BĐS là gì? Theo Điều 4, Luật Kinh doanh BĐS năm 2006: "Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi". Như vậy, đầu tư kinh doanh BĐS bao gồm hai hoạt động chủ yếu: i) Chủ đầu tư bỏ vốn đầu tư tạo lập BĐS hàng hóa để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động này bao gồm việc đầu tư tạo lập BĐS hàng hóa và phân phối BĐS hàng hóa đến với người tiêu dùng; ii) Chủ đầu tư bỏ vốn mua, thuê lại BĐS của tổ chức, cá nhân; sau đó, bán lại, cho thuê lại, cho thuê mua lại nhằm mục đích sinh lợi. Bên cạnh các đặc điểm của đầu tư kinh doanh nói chung, đầu tư kinh doanh BĐS có những đặc điểm riêng cơ bản sau đây: Thứ nhất, đầu tư kinh doanh BĐS là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Do BĐS là tài sản có giá trị lớn không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đối với mỗi quốc gia. Đầu tư kinh doanh BĐS ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế. Mọi sự đổ vỡ trong đầu tư kinh doanh BĐS gây ra những hậu quả khôn lường đối với nền kinh tế mà cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng kinh tế tại Hoa Kỳ năm 2007 là những ví dụ điển hình. Vì vậy, đầu tư kinh doanh BĐS là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Có nghĩa là không phải mọi tổ 9 chức, cá nhân đều có thể đầu tư kinh doanh BĐS mà chỉ tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện do Luật Kinh doanh BĐS năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan quy định mới được phép đầu tư kinh doanh BĐS. Thứ hai, đối tượng của đầu tư kinh doanh BĐS là một loại hàng hóa đặc biệt. Đất đai có giới hạn, không do con người tạo ra, có tính cố định không thể di dời và có giá trị sử dụng lâu dài vĩnh viễn. Đối với các BĐS là nhà, công trình xây dựng cũng có thể sử dụng hàng chục, hàng trăm năm, hàng hóa BĐS có tính lâu bền và khan hiếm.

Mặt khác, đất đai là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh và là địa bàn phân bố các khu dân cư. Vì vậy, nền kinh tế tăng trưởng, bùng nổ dân số.thì nhu cầu về BĐS ngày càng tăng cao. Cung thường không đáp ứng đủ cầu, giá đất tăng lên, kinh doanh thu được nhiều lợi nhuận nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, dễ xảy ra tình trạng " sốt giá" BĐS, tình trạng "bong bóng" BĐS, gây bất lợi xã hội. Khi "bong bóng" BĐS vỡ thì giá BĐS giảm mạnh, thị trường BĐS đóng băng gây phá sản hàng loạt các doanh nghiệp BĐS.

Thứ ba, đầu tư kinh doanh BĐS đòi hỏi nhu cầu về vốn rất lớn. Doanh nghiệp đầu tư phải có nhiều vốn, có tiềm lực tài chính mạnh, có khả năng dễ dàng huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư. Hơn nữa, việc thu hồi vốn đầu tư BĐS thường chậm, kéo dài, khoảng 6 đến 10 năm, thậm chí trên 20. Do vậy, việc tìm "giải pháp đẩy nhanh tính thanh khoản" của hàng hóa BĐS là vô cùng cần thiết.

Thứ tư, đối với hoạt động đầu tư kinh doanh BĐS, các chủ thể kinh doanh dễ vay được vốn của các tổ chức tín dụng hơn các lĩnh vực khác. Vì là tài sản có giá trị lớn và chủ sở hữu BĐS có thể dễ dàng thế chấp để vay vốn. Nhiều tổ chức tín dụng khuyến khích cho vay thế chấp BĐS và có nhiều ưu đãi. Theo thống kê, ở các nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng BĐS chiếm 80% trong tổng lượng vốn cho vay.

Các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh BĐS cũng luôn có nhu cầu vay vốn thế chấp; bởi đầu tư kinh doanh BĐS yêu cầu vốn đầu tư lớn và doanh nghiệp có thể thu được những lợi ích tài chính do dùng tiền vay để đầu tư và chi phí vay tiền thường nhỏ hơn nhiều lợi ích do đầu tư BĐS mang lại. Tuy vậy, cần phải thận trọng 10 đối với việc cho vay thế chấp BĐS, bởi bài học của nước Mỹ về việc "cho vay BĐS dưới chuẩn" dẫn đến sự sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ khi BĐS đồng loạt rớt giá, các khoản cho vay thế chấp BĐS không có khả năng thu hồi. Điều này gây ra hậu quả thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Mỹ và cho toàn thế giới. Thứ năm, đầu tư kinh doanh BĐS có thể đối phó với ảnh hưởng lạm phát.

Do lạm phát nên giá thành xây dựng tăng cao làm cho giá trị BĐS tăng lên. Bất động sản lại là tư liệu không thể thiếu trong kinh doanh và đời sống, nên dù kinh tế có bị suy thoái thì giá trị sử dụng BĐS vẫn được bảo tồn. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy trong hơn chục năm gần đây, giá cả bình quân của BĐS tăng hàng năm 15% trong khi tỷ lệ lạm phát bình quân hàng năm chỉ là 12%. Kết quả nghiên cứu của Mỹ, Anh và Hồng Kông cho thấy tỷ lệ tăng giá nhà bình quân hàng năm thường gấp đôi tỷ lệ lạm phát cùng kỳ (tăng giá xét từ đầu tư dài hạn).

Thứ sáu, đây là loại hình kinh doanh mạo hiểm, lợi nhuận lớn nhưng rủi ro cũng rất nhiều. Có những rủi ro mà chủ thể đầu tư rất khó lường trước để đối phó như: Rủi ro do lạm phát, do cung cầu thay đổi, rủi ro về chuyển đổi thành tiền, về lãi suất, về thay đổi chính sách, pháp luật. Những rủi ro này sẽ được ngăn chặn, phòng ngừa nếu doanh nghiệp được kinh doanh trong một thị trường BĐS chính quy, minh bạch, có tổ chức v. Khái niệm chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản Mua bán, chuyển nhượng QSDĐ là giao dịch phổ biến trong nền kinh tế thị trường.

Đất đai là một loại BĐS có vai trò là điều kiện để hình thành các BĐS khác như nhà ở, công trình xây dựng v. Các BĐS này hình thành và gắn liền với đất thành một khối thống nhất không thể tách dời. Khi chuyển nhượng nhà ở, công trình xây dựng v. thì bao giờ cũng phải chuyển nhượng đất đai và ngược lại.

Ở nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu; pháp luật nghiêm cấm mua bán đất đai mà chỉ cho phép chuyển nhượng QSDĐ. Vì vậy, giao dịch chuyển nhượng QSDĐ là giao dịch không thể thiếu được trong thị trường BĐS. Xét dưới góc độ 11 pháp luật dân sự, BLDS năm 2005 và Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp biên soạn năm 2006 có đưa ra định nghĩa về chuyển nhượng QSDĐ. Tuy nhiên, cho dù trên thực tế chuyển nhượng QSDĐ trong đầu tư kinh doanh BĐS là giao dịch rất phổ biến nhưng xét dưới góc độ học thuật, các sách, báo pháp lý nước ta dường như chưa đưa ra định nghĩa chính thức về khái niệm này.

Trên cơ sở, định nghĩa về chuyển nhượng QSDĐ được đề cập trong các công trình trên đây và nghiên cứu nội dung các quy định về chuyển nhượng QSDĐ trong đầu tư kinh doanh BĐS ở các văn bản pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra quan niệm về vấn đề này như sau: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đầu tư kinh doanh bất động sản là sự thỏa thuận giữa người sử dụng đất với tư cách là chủ đầu tư kinh doanh bất động sản (bên chuyển nhượng) chuyển giao đất và quyền sử dụng đất nhằm mục đích sinh lợi phù hợp với pháp luật dân sự, pháp luật đất đai và pháp luật kinh doanh bất động sản. Bên cạnh các đặc điểm của giao dịch chuyển nhượng QSDĐ; chuyển nhượng QSDĐ trong đầu tư kinh doanh BĐS còn có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, đối tượng của giao dịch chuyển nhượng QSDĐ không phải là đất đai (vật) mà là QSDĐ (quyền sử dụng vật). Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người SDĐ). Người SDĐ chỉ được phép chuyển QSDĐ trong thời hạn SDĐ, đúng mục đích sử dụng; được thực hiện giao dịch các quyền lợi, lợi ích chứa đựng trong QSDĐ chứ không phải bản thân đất đai và nhìn chung là quyền năng bị hạn chế hơn so với mua bán chuyển nhượng đất đai.

Thứ hai, đất đai không do con người tạo ra và có thể tồn tại vĩnh viễn (có tính lâu bền, khan hiếm). Do vậy, giá chuyển nhượng QSDĐ không phản ánh giá trị của hàng hóa QSDĐ mà là chỉ số phản ánh khả năng thu lợi từ đất hoặc hiệu quả vốn đầu tư. Sự so sánh giữa các BĐS cùng loại chỉ mang tính tương đối. Đất đai cũng có tính khác biệt nên người chuyển nhượng có lợi thế về sự độc quyền và chuyển nhượng với giá rất cao.

Khác với quy luật "cung - cầu" thông thường, giá QSDĐ nhìn chung ngày càng tăng vì gia tăng sự đầu tư và nhu cầu đối với đất ngày càng lớn. 12 Thứ ba, thị trường mua bán, chuyển nhượng QSDĐ mang tính vùng, khu vực và phân loại sâu sắc. Bất động sản là loại hàng hóa cố định về vị trí, không thể di dời và chịu tác động của yếu tố tập quán, thị hiếu, tâm lý. Ở các vùng đô thị có quy mô và trình độ phát triển kinh tế cao thì hoạt động mua bán BĐS sôi động hơn ở nông thôn.

Hàng hóa BĐS dư thừa ở vùng này không thể đem bán ở vùng khác. Tương tự như vậy, nhà, đất ở "cung" không đủ "cầu" nên giá đất rất cao; trong khi đó, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng lại có giá thấp hơn và không sôi động như loại đất ở. Thứ tư, nguồn cung QSDĐ thường thay đổi chậm hơn so với cầu biến động BĐS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ