Luận văn thạc sĩ luật kinh tế về bảo hiểm hưu trí tại tỉnh Lạng Sơn

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế phân tích toàn diện pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại tỉnh Lạng Sơn

Bảo hiểm hưu trí giữ vai trò xương sống trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam. Chế độ này bảo đảm nguồn tài chính ổn định cho người lao động khi bước vào độ tuổi nghỉ hưu hoặc suy giảm khả năng lao động. Khung pháp lý về bảo hiểm hưu trí được xây dựng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ rủi ro giữa các thành viên. Luật Bảo hiểm xã hội quy định rõ ràng về quyền lợi, mức đóng, điều kiện hưởng lương hưu và trách nhiệm của cơ quan quản lý. Tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn, pháp luật bảo hiểm hưu trí áp dụng cho cả khu vực bắt buộc lẫn tự nguyện. Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới với cơ cấu lao động đặc thù gồm nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Do đó, việc phổ biến và thực thi các chế định pháp lý đòi hỏi tính linh hoạt cao. Quá trình áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang bảo vệ thu nhập lâu dài cho lực lượng lao động địa phương. Cơ chế quản lý quỹ hưu trí chặt chẽ giúp bảo toàn nguồn vốn an sinh xã hội cấp tỉnh. Sự phát triển của các quy định pháp luật giúp nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động trên toàn địa bàn.

1.1. Khái niệm và nguyên tắc pháp lý của bảo hiểm hưu trí

Bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo hiểm xã hội bảo đảm thu nhập hàng tháng cho người lao động khi hết tuổi lao động theo luật định. Nguyên tắc cốt lõi của chế độ này là mức hưởng được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Pháp luật quy định sự chia sẻ giữa những người tham gia để duy trì sự cân bằng của quỹ. Người sử dụng lao động và người lao động cùng có nghĩa vụ trích nộp theo tỷ lệ luật định. Chế độ hưu trí tạo mạng lưới an toàn kinh tế vững chắc, giảm gánh nặng trợ cấp cho ngân sách nhà nước và củng cố trật tự an sinh xã hội.

1.2. Khung pháp luật hiện hành điều chỉnh chế độ hưu trí

Hệ thống pháp luật hiện hành về hưu trí tại Việt Nam lấy Luật Bảo hiểm xã hội làm nền tảng. Các văn bản dưới luật như Nghị định số 115/2015/NĐ-CP và Nghị định số 134/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết việc thi hành. Pháp luật quy định cụ thể về độ tuổi nghỉ hưu, số năm đóng tối thiểu và công thức tính mức bình quân tiền lương tháng. Đối với khu vực bắt buộc, mức lương hưu hàng tháng tối thiểu bằng mức lương cơ sở. Các quy định pháp luật cũng mở rộng cơ chế bảo hiểm hưu trí tự nguyện, tạo điều kiện cho lao động tự do tại Lạng Sơn tiếp cận chính sách an sinh lâu dài.

II. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo hiểm hưu trí ở Lạng Sơn

Thực tiễn triển khai pháp luật bảo hiểm hưu trí tại tỉnh Lạng Sơn ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong công tác thu nợ và chi trả. Số lượng người tham gia bảo hiểm hưu trí bắt buộc và tự nguyện tăng đều qua các giai đoạn. Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Lạng Sơn giải quyết chế độ hưu trí kịp thời, đúng đối tượng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn. Tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp trên địa bàn vẫn diễn ra phức tạp. Nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh gặp khó khăn tài chính, dẫn đến việc chậm đóng kéo dài. Một bộ phận người sử dụng lao động cố tình lách luật bằng cách kê khai mức lương đóng bảo hiểm thấp hơn thu nhập thực tế. Ngoài ra, việc phát triển bảo hiểm hưu trí tự nguyện ở khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa còn hạn chế do mức thu nhập của người dân chưa ổn định. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm pháp luật.

2.1. Kết quả đạt được trong công tác quản lý và chi trả

Bảo hiểm xã hội tỉnh Lạng Sơn đã mở rộng diện bao phủ bảo hiểm hưu trí qua từng năm. Quy trình tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ được cải cách theo hướng tinh gọn, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại. Việc chi trả lương hưu được thực hiện an toàn, minh bạch qua hệ thống bưu điện và tài khoản ngân hàng cá nhân. Công tác quản lý đối tượng thụ hưởng ngày càng chặt chẽ, hạn chế tối đa tình trạng trục lợi quỹ bảo hiểm. Đội ngũ cán bộ chuyên trách nâng cao tinh thần trách nhiệm, hỗ trợ kịp thời người lao động hoàn thiện thủ tục hưởng chế độ hưu trí.

2.2. Những tồn tại và hạn chế trong thực thi pháp luật hưu trí

Tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội tại Lạng Sơn vẫn chưa được xử lý dứt điểm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Một số doanh nghiệp giải thể hoặc phá sản bỏ lại các khoản nợ bảo hiểm khó thu hồi. Tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện vẫn còn thấp so với tiềm năng lực lượng lao động địa phương. Công tác tuyên truyền chính sách tại các huyện vùng biên giới chưa đạt chiều sâu cần thiết. Chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm chưa đủ mạnh, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật lao động.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm hưu trí Lạng Sơn

Để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật bảo hiểm hưu trí, việc hoàn thiện hệ thống thể chế và phương thức quản lý là yêu cầu cấp thiết. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi các quy định về điều kiện hưởng lương hưu theo hướng linh hoạt, giảm số năm đóng tối thiểu nhằm thu hút lao động khu vực phi chính thức. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội cần được tăng nặng để tạo tính răn đe nghiêm khắc. Tại tỉnh Lạng Sơn, cơ quan chức năng cần đẩy mạnh liên ngành thanh tra giữa cơ quan bảo hiểm, thanh tra lao động và công an. Việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hồ sơ bảo hiểm giúp phát hiện sớm các dấu hiệu chậm đóng. Đồng thời, chính quyền địa phương cần thiết kế chính sách hỗ trợ mức đóng cho người dân tộc thiểu số và hộ nghèo khi tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Đổi mới công tác tuyên truyền bằng tiếng dân tộc bản địa giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi an sinh tuổi già.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan

Cần sửa đổi quy định về thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng lương hưu xuống mức phù hợp hơn, tạo cơ hội cho người tham gia muộn. Pháp luật cần bổ sung quy định chi tiết về bảo hiểm hưu trí bổ sung, khuyến khích doanh nghiệp trích lập quỹ hưu trí tự nguyện cho nhân viên. Cơ chế khởi kiện dân sự và xử lý hình sự tội trốn đóng bảo hiểm xã hội theo Bộ luật Hình sự cần có hướng dẫn áp dụng đồng bộ. Việc chuẩn hóa công thức tính lương hưu bình quân giúp bảo đảm tính bền vững tài chính cho quỹ bảo hiểm dài hạn.

3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại tỉnh Lạng Sơn

Tỉnh Lạng Sơn cần tăng cường thanh tra liên ngành đột xuất đối với các doanh nghiệp nợ đọng kéo dài trên địa bàn. Cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với ủy ban nhân dân các xã, phường để rà soát lao động chưa tham gia bảo hiểm. Đẩy mạnh chuyển đổi số thông qua ứng dụng VssID giúp người lao động tự kiểm tra quá trình đóng bảo hiểm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các cấp chính quyền cần trích ngân sách địa phương hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm tự nguyện cho đồng bào vùng biên giới, nâng cao độ bao phủ an sinh.

IV. Ý nghĩa ứng dụng nghiên cứu bảo hiểm hưu trí tỉnh Lạng Sơn

Nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm hưu trí tại tỉnh Lạng Sơn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho công tác hoạch định chính sách an sinh. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học vững chắc giúp các nhà làm luật hoàn thiện các quy định về bảo hiểm xã hội phù hợp với địa bàn vùng cao biên giới. Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quy định pháp luật và hiệu quả tổ chức thực hiện tại địa phương. Việc vận dụng các giải pháp đề xuất sẽ trực tiếp cải thiện tỷ lệ bao phủ bảo hiểm hưu trí, hạn chế tình trạng rút bảo hiểm một lần của người lao động. Đối với các cơ quan chuyên môn tại Lạng Sơn, công trình là tài liệu tham khảo giá trị để nâng cao nghiệp vụ quản lý thu nợ và chi trả. Trong dài hạn, việc thực thi nghiêm minh pháp luật hưu trí bảo đảm đời sống kinh tế ổn định cho hàng nghìn người cao tuổi, củng cố trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy kinh tế tỉnh Lạng Sơn phát triển bền vững.

4.1. Giá trị học thuật của luận văn thạc sĩ luật kinh tế

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế đóng góp cơ sở lý luận chuyên sâu về chế định bảo hiểm hưu trí trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đề tài hệ thống hóa các nguyên tắc pháp lý, tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của các nước về hưu trí. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế tại Lạng Sơn, luận văn bổ sung nguồn tư liệu thực chứng phong phú cho chuyên ngành luật kinh tế. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và các nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn trong công tác an sinh địa phương

Các kiến nghị trong nghiên cứu có tính ứng dụng cao đối với hoạt động thực thi công vụ của Bảo hiểm xã hội tỉnh Lạng Sơn. Mô hình phối hợp liên ngành giúp địa phương ngăn chặn kịp thời tình trạng trốn đóng và trục lợi bảo hiểm. Các giải pháp truyền thông phù hợp phong tục tập quán giúp nâng cao tỷ lệ tham gia hưu trí tự nguyện tại các thôn bản. Ứng dụng kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bảo đảm cuộc sống ấm no cho người lao động khi hết tuổi làm việc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật kinh tế pháp luật về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện tại tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ 1. Khái niệm và vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm hưu trí 1. Khái niệm bảo hiểm hưu trí Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành các hoạt động lao động, tạo ra của cải vật chất. Song không phải lúc nào con người cũng đều gặp thuận lợi, đều tạo ra được của cải vật chất cũng như thu nhập.

Có những lúc con người phải đối mặt với những khó khăn do tự nhiên đem lại hoặc gặp những biến cố rủi ro bất ngờ xảy ra như bị ốm đau, bị tai nạn, bị mất khả năng lao động hay suy giảm khả năng lao động. Bên cạnh đó, con người cũng không phải có thể làm việc được suốt đời. Đến một độ tuổi nào đó, con người cần phải nghỉ ngơi, không còn khả năng lao động. Điều này dẫn đến việc con người cần phải tìm những biện pháp khác nhau để phòng ngừa những rủi ro cho mình.

Một trong những biện pháp đó chính là việc liên kết lại với nhau trên tinh thần đoàn kết tương trợ giữa các thành viên trong cộng đồng để gánh vác sẻ chia bớt khó khăn, thông qua việc tiến hành lập một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia để bảo hiểm cho các đối tượng NLĐ trong phạm vi của quỹ này. Hình thức bảo hiểm đó chính là BHXH. Đức là quốc gia đầu tiên khởi xướng và ban hành các đạo luật hoàn chỉnh về BHXH: Luật về ốm đau (năm 1883), Luật về tai nạn (năm 1885), Luật về hưu trí (năm 1888); sau đó nước Đức ban hành thêm Luật Bảo hiểm thất nghiệp (năm 1927), Bảo hiểm chăm sóc y tế dài hạn (năm 1995)1; các loại hình bảo hiểm này được chia thành bảo hiểm bắt buộc do nhà nước quản lý và loại hình bảo hiểm tự nguyện do các công ty tư nhân đảm nhiệm. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (2005), Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.

7 đầu thể kỉ XIX thì một số nước ban hành luật BHXH và tổ chức thực hiện như ở Bỉ, Áo, Ý, Pháp; sau đó được lan rộng ở các nước châu Mỹ, châu Âu và châu Á; BHXH dần dần đã trở thành trụ cột cơ bản của hệ thống An sinh xã hội và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người, hiện nay có trên 180 nước có luật về BHXH. Tháng 6 năm 1952, Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) đã thông qua Công ước 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, trong đó nêu ra 9 chế độ trợ cấp cơ bản gồm: Chế độ chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất; trong đó quy định về nội dung của các chế độ như: đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, thời gian hưởng. Điều 25 công ước 102 có nhấn mạnh: Mọi nước thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ước phải đảm bảo cho người được bảo vệ được nhận trợ cấp tuổi già (hưu bổng) theo những điều của Công ước. ILO khuyến nghị các nước phải bảo đảm thực hiện BHHT bắt buộc, trong đó có chế độ hưu trí.

Chế độ hưu trí là chế độ BHXH dành cho người đã hết tuổi lao động, không thể tiếp tục làm việc bình thường. Khi con người già đi, sức khỏe bị giảm sút không còn khả năng lao động, họ sẽ không thể tham gia quan hệ lao động được nữa dẫn đến việc không có thu nhập. Vì vậy để đảm bảo lợi ích cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động và có nguồn thu nhập ổn định thường xuyên để đảm bảo cuộc sống, cần phải có chế độ BHXH hưu trí. Trong các chế độ BHXH, BHHT luôn được coi là "trụ cột" của BHXH.

BHHT có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, BHHT là BHXH mang tính dài hạn. Ở các chế độ khác của BHXH (như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất), người tham gia bảo hiểm có thể hưởng bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm ở một thời gian nhất định và thường là khi họ đang tham gia quan hệ lao động. Đối với BHHT, người tham gia bảo hiểm lại thường chỉ 8 hưởng bảo hiểm khi họ hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động. Bởi vậy quá trình đóng bảo hiểm thường kéo dài từ khi thiết lập quan hệ lao động cho đến khi kết thúc quá trình làm việc, NLĐ hết tuổi lao động.

Hơn nữa, việc thụ hưởng BHHT về cơ bản cũng mang tính chất dài hạn (trừ trường hợp hưởng BHHT một lần). Nó thường phụ thuộc vào thời gian đóng BHXH dài hay ngắn và tuổi thọ của NLĐ. Chính vì vậy, chế độ BHHT được xem là chế độ mang tính dài hạn nằm ngoài quá trình lao động. Thứ hai, đối tượng tham gia hưởng chế độ hưu trí rất rộng, được áp dụng cho hầu hết những người trong độ tuổi lao động.

Con người ai cũng đến lúc về già. Khi đó họ cần được nghỉ ngơi và cũng cần có thu nhập để đảm bảo cuộc sống. BHHT thực chất là chế độ hướng tới mục đích này. BHHT là chế độ trợ cấp dành cho những người hết tuổi lao động khi họ không tham gia quan hệ lao động nữa.

Chính vì vậy mà hầu hết NLĐ dù làm việc ở khu vực chính thức hay phi chức thức đều muốn tham gia. Vì vậy, đối tượng tham gia BHXH thường rất rộng. Thứ ba, BHHT là chế độ bảo hiểm chủ yếu áp dụng cho các đối tượng đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia vào quan hệ lao động nữa. Khác với các chế BHXH bắt buộc khác như chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thường được áp dụng đối với NLĐ trong độ tuổi lao động và trong quá trình lao động; BHHT thường được áp dụng đối với NLĐ khi họ không tham gia quan hệ lao động nữa.

Điều này cũng phù hợp với mục đích của BHHT bởi đây là chế độ hướng đến việc đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi họ không còn khả năng lao động. Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm hưu trí Thứ nhất, đối với NLĐ, BHHT có vai trò góp phần ổn định thu nhập cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động, không tham gia quan hệ lao động nữa. Khi tham gia BHXH, NLĐ phải đóng một khoản tiền trích từ lương vào quỹ BHXH. Khi NLĐ hết tuổi lao động hoặc không tham gia quan hệ lao động, 9 quỹ BHXH sẽ chi trả cho NLĐ để bù đắp một phần thu nhập hỗ trợ cho NLĐ bị mất thu nhập để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống.

BHHT đảm bảo việc thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội. Trong quá trình lao động, khi NLĐ có sự đảm bảo về phần thu nhập khi nghỉ hưu sẽ tạo nên tâm lí yên tâm để cống hiến sức lao động, tinh thần thoải mái để làm việc với năng suất lao động cao. Khoản tiền lương hưu mà họ nhận được là kết quả tích lũy trong suốt quá trình làm việc thông qua việc đóng góp vào quỹ hưu trí; đây là khoản thu nhập và tiền lương chính, đảm bảo cuộc sống vật chất cho NLĐ trong suốt quãng đời còn lại sau lao động, là chỗ dựa tinh thần cho người người về hưu, không bị mặc cảm là gánh nặng của gia đình và xã hội. Thứ hai, đối với người sử dụng lao động (NSDLĐ), BHHT cũng góp phần tạo sự ổn định cho doanh nghiệp và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.

Ngoài việc quy định NLĐ đóng vào quỹ BHHT, NSDLĐ cũng phải có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHHT. Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp vào quỹ BHHT cho NLĐ có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng thực chất, về lâu dài, phương thức BHXH nói chung và BHHT nói riêng đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ NLĐ khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ sử dụng lao động bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh. Hơn nữa, khi BHHT được thực hiện, NLĐ cũng yên tâm làm việc, tạo động lực để họ cống hiến cho doanh nghiệp.

Chính điều đó sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển. Thứ ba, đối với xã hội, BHHT góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. Ở phương diện xã hội, BHHT là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ. Ở phương diện kinh tế, BHHT là một công cụ phân phối lại thu nhập 10 giữa các thành viên trong cộng đồng.

Nhờ sự điều tiết này NLĐ được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội. BHHT vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động. Bên cạnh đó, BHHT hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản "đóng - hưởng" đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của NLĐ về chính sách BHXH nói chung và BHHT nói riêng. Khi đó, mọi NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chế độ về BHXH, BHHT.

Nguyên tắc của bảo hiểm hưu trí Chế độ BHHT là một trong các chế độ của BHXH nên cũng tuân thủ theo các nguyên tắc chung của BHXH. Tuy nhiên bên cạnh đó, BHHT có nhiều yếu tố đặc thù.Vì vậy, BHHT vừa tuân theo nguyên tắc chung của BHXH lại vừa tuân theo một số nguyên tắc riêng biệt. * Các nguyên tắc chung Thứ nhất: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc dân nên việc thực hiện BHXH phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ