Luận văn: Phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự từ thực tiễn Lạng Sơn

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế về quyền phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự cùng thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự hiện nay

Quyền phản tố của bị đơn là một chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định rõ quyền lợi này nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các đương sự. Bị đơn không chỉ giữ vai trò bị động khi tham gia tố tụng. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu độc lập hướng về phía nguyên đơn. Yêu cầu này cũng có thể hướng về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Bản chất của phản tố là một vụ kiện ngược lồng ghép trong vụ án đang thụ lý. Tòa án xem xét yêu cầu phản tố cùng với yêu cầu khởi kiện ban đầu. Cơ chế này giúp giải quyết tranh chấp triệt để trong một quy trình duy nhất. Việc xử lý đồng thời tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho các đương sự. Quy định phản tố đồng thời ngăn ngừa nguy cơ xung đột giữa các bản án khác nhau.

Để được chấp nhận, yêu cầu phản tố phải thỏa mãn các điều kiện luật định. Yêu cầu phản tố nhằm bù trừ nghĩa vụ hoặc triệt tiêu yêu cầu khởi kiện. Bị đơn cũng có thể yêu cầu giải quyết quan hệ pháp luật phát sinh từ cùng một tranh chấp. Quy định này tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động tranh tụng dân chủ tại Tòa án.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của quyền phản tố

Khái niệm phản tố thể hiện quyền tự định đoạt và tự bảo vệ của bị đơn. Bị đơn thực hiện quyền này thông qua đơn yêu cầu phản tố gửi Tòa án. Đơn phản tố mang đầy đủ các đặc tính của một đơn khởi kiện dân sự. Nội dung phản tố gắn liền mật thiết với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tính độc lập của phản tố thể hiện ở việc Tòa án vẫn giải quyết dù nguyên đơn rút đơn kiện. Bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu phản tố theo quy định. Đây là công cụ pháp lý sắc bén giúp bị đơn chuyển hóa vị thế tố tụng từ phòng thủ sang phản kích hợp pháp.

1.2. Ý nghĩa và điều kiện thực hiện quyền phản tố của bị đơn

Quyền phản tố giữ vị trí then chốt trong việc bảo vệ quyền công dân tại Tòa án. Chế định này bảo đảm nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định ba trường hợp bị đơn được thực hiện quyền phản tố. Thứ nhất, yêu cầu nhằm bù trừ nghĩa vụ với nguyên đơn. Thứ hai, yêu cầu làm triệt tiêu toàn bộ hoặc một phần yêu cầu của nguyên đơn. Thứ ba, các yêu cầu có sự liên quan mật thiết đến việc giải quyết vụ án. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện này bảo đảm tính công bằng và đẩy nhanh tiến độ xét xử.

II. Thực tiễn phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự tại Lạng Sơn

Tại tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân các cấp thường xuyên thụ lý các vụ án có yêu cầu phản tố. Địa bàn miền núi với nhiều đồng bào dân tộc thiểu số tạo nên đặc thù xét xử riêng. Phần lớn yêu cầu phản tố phát sinh trong tranh chấp đất đai và hợp đồng dân sự. Nhiều đương sự đưa ra yêu cầu phản tố nhằm bảo vệ quyền sử dụng đất gia đình. Số lượng vụ việc có yêu cầu phản tố tăng dần theo từng năm công tác.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử bộc lộ nhiều khó khăn và bất cập đáng kể. Bị đơn thường lợi dụng quyền phản tố để kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Nhiều trường hợp bị đơn chỉ nộp đơn phản tố khi Tòa án chuẩn bị mở phiên tòa. Hành vi này khiến thời hạn chuẩn bị xét xử phải tính lại từ đầu. Thẩm phán phải thực hiện lại toàn bộ quy trình thu thập chứng cứ và định giá tài sản.

Bên cạnh đó, việc xác định thời hiệu phản tố vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều. Một số Thẩm phán coi phản tố là vụ kiện độc lập chịu sự điều chỉnh của thời hiệu khởi kiện. Một số ý kiến khác lại cho rằng quyền phản tố không bị giới hạn bởi thời hiệu. Sự thiếu thống nhất này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia tố tụng.

2.1. Thực trạng áp dụng phản tố tại Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn

Các Tòa án nhân dân tại Lạng Sơn đã thụ lý và giải quyết nhiều vụ án phản tố phức tạp. Tỷ lệ giải quyết đạt kết quả tích cực, bảo đảm công bằng xã hội. Tranh chấp chủ yếu liên quan đến quyền sử dụng đất rừng, đất nông nghiệp và vay nợ. Đa phần các đương sự có nhận thức pháp luật hạn chế do đặc thù vùng biên giới. Cán bộ Tòa án phải nỗ lực hướng dẫn đương sự thực hiện quyền phản tố đúng thủ tục. Tuy vậy, tỷ lệ án bị sửa hoặc hủy do xử lý sai tư cách phản tố vẫn còn tồn tại.

2.2. Khó khăn và bất cập trong việc áp dụng quy định phản tố

Bất cập lớn nhất nằm ở thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn. Pháp luật cho phép bị đơn phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nhiều bị đơn cố tình trì hoãn phiên tòa bằng cách nộp đơn phản tố vào ngày cuối cùng. Điều này gây quá tải công việc cho Thẩm phán và làm chậm trễ tiến độ tố tụng. Ngoài ra, việc phân biệt giữa ý kiến phản đối và yêu cầu phản tố còn gây nhiều lúng túng. Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ xác minh thực địa tại vùng sâu vùng xa còn thiếu thốn.

III. Hoàn thiện quy định phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự

Để khắc phục những tồn tại, việc hoàn thiện pháp luật về phản tố là yêu cầu cấp thiết. Cơ quan lập pháp cần sửa đổi quy định về thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố. Thời hạn nộp đơn phản tố nên giới hạn trước khi kết thúc phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ. Quy định này ngăn chặn tình trạng bị đơn cố tình trì hoãn việc xét xử. Tòa án sẽ chủ động hơn trong việc lên kế hoạch giải quyết vụ án.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn thống nhất. Văn bản hướng dẫn cần làm rõ quy định về thời hiệu đối với yêu cầu phản tố. Tòa án tối cao cần định nghĩa ranh giới giữa ý kiến bảo vệ và yêu cầu phản tố độc lập. Việc chuẩn hóa quy trình tiếp nhận đơn giúp Thẩm phán thụ lý án chính xác và nhanh chóng.

Đồng thời, Tòa án các cấp cần tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ cho Thẩm phán và Thư ký. Địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật đến từng thôn bản vùng cao. Trợ giúp pháp lý lưu động sẽ giúp đồng bào dân tộc hiểu rõ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Sự phối hợp đồng bộ giữa các giải pháp sẽ nâng cao chất lượng tư pháp tại địa phương.

3.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về chế định phản tố

Cần cụ thể hóa quy định về thời điểm thụ lý đơn phản tố trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chỉ được quyền phản tố trong thời hạn chuẩn bị tiếp cận công khai chứng cứ. Nếu đưa ra yêu cầu sau thời điểm này, Tòa án sẽ tách thành vụ án dân sự khác. Quy định mới sẽ bảo đảm tính nghiêm minh và tôn trọng quyền lợi của nguyên đơn. Bên cạnh đó, mức tạm ứng án phí phản tố cần được điều chỉnh linh hoạt cho đối tượng yếu thế. Việc bổ sung hướng dẫn chi tiết sẽ loại bỏ khoảng trống pháp lý hiện hành.

3.2. Nâng cao năng lực xét xử và tuyên truyền pháp luật tại Lạng Sơn

Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn cần tổ chức thường xuyên các phiên tòa rút kinh nghiệm về phản tố. Thẩm phán cơ sở cần được bồi dưỡng kỹ năng phân loại đơn và xử lý yêu cầu phản tố. Việc phối hợp giữa Tòa án và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước cần được đẩy mạnh. Đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở cần tăng cường phổ biến pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số. Người dân hiểu rõ quyền lợi sẽ hạn chế các tranh chấp kéo dài không cần thiết. Nâng cao nhận thức xã hội là chìa khóa bảo đảm hiệu lực thi hành pháp luật.

IV. Giá trị ứng dụng nghiên cứu phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự

Nghiên cứu về quyền phản tố của bị đơn mang lại giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài luận văn thạc sĩ luật kinh tế đã tổng hợp toàn diện các quy định tố tụng. Kết quả phân tích phản ánh chân thực bức tranh áp dụng pháp luật tại Tòa án Lạng Sơn. Các phát hiện từ thực tiễn cung cấp cứ liệu khoa học tin cậy cho công tác cải cách tư pháp.

Về mặt ứng dụng, các đề xuất sửa đổi luật hỗ trợ đắc lực cho hoạt động lập pháp. Thẩm phán và luật sư có thể sử dụng các giải pháp làm tài liệu tham khảo khi hành nghề. Cơ quan xét xử nâng cao tính chuẩn xác trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự phức tạp. Quy trình thụ lý rõ ràng giúp giảm tải áp lực công việc cho hệ thống Tòa án nhân dân địa phương.

Đối với xã hội, nghiên cứu góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người dân được tạo điều kiện thuận lợi để tự bảo vệ quyền lợi chính đáng trước pháp luật. Việc áp dụng đúng đắn chế định phản tố củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý. Đây là tiền đề quan trọng xây dựng nền tư pháp văn minh, hiện đại và công bằng.

4.1. Ý nghĩa học thuật của đề tài thạc sĩ luật kinh tế về phản tố

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận về quyền phản tố của bị đơn. Đề tài hệ thống hóa các quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa phản tố và yêu cầu khởi kiện chính. Các luận điểm khoa học trong đề tài đóng góp nguồn tư liệu quý cho công tác giảng dạy luật học. Công trình tạo diễn đàn trao đổi chuyên môn bổ ích giữa các chuyên gia pháp lý và nhà nghiên cứu. Đây là đóng góp học thuật thiết thực cho khoa học luật tố tụng Việt Nam.

4.2. Khả năng áp dụng thực tiễn trong công tác xét xử tại địa phương

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp vào công tác thụ lý và xét xử tại Tòa án. Các kiến nghị giúp Thẩm phán giải quyết tình huống bị đơn cố tình kéo dài thời gian vụ án. Quy trình xử lý đơn phản tố được chuẩn hóa giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị xét xử. Đề tài cũng là cẩm nang hữu ích cho các tổ chức hành nghề luật sư và trợ giúp pháp lý. Đương sự được bảo đảm quyền tiếp cận công lý một cách minh bạch và hiệu quả nhất. Mô hình giải pháp có thể nhân rộng tại nhiều địa phương miền núi khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths luật kinh tế phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân ở tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẢN TỐ CỦA BỊ ĐƠN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 9 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự "Phản tố" được hiểu là một quyền của người "bị tố" - người bị kiện hay chính là bị đơn nhằm đưa ra những yêu cầu "phản" lại với những "tố" yêu cầu của người khởi kiện. "Phản" ở đây được hiểu theo nghĩa rộng có tính đối lập với yêu cầu khởi kiện nhưng sự đối lập không chỉ bao gồm việc loại trừ trực tiếp yêu cầu của nguyên đơn mà có thể theo hướng bù trừ nghĩa vụ được nêu trong yêu cầu của nguyên đơn2.

Phản theo Từ điển tiếng Việt là ngược lại, tố là kiện. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì phản tố là kiện ngược lại. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu về TTDS, thì khi trở thành người bị kiện (bị đơn) trong một vụ án dân sự, pháp luật ghi nhận bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố. Tuy nhiên trên thực tế, có thể thấy xảy ra nhiều trường hợp do không biết, không tiếp cận được hay ngay cả có thể đã biết về quy định này nhưng do chưa hiểu rõ ràng, đầy đủ "phản tố" của mình mà pháp luật cho phép nên nhiều bị đơn đã bỏ dẫn đến việc quyền lợi hợp pháp của bị đơn trong vụ việc đó không được bảo vệ một cách đảm bảo.

Bởi, trong một vụ án dân sự nếu không có yêu cầu phản tố thì bị đơn là người có trách nhiệm ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; tuy nhiên nếu bị đơn thực hiện quyền phản tố thì bị đơn còn là người đưa ra yêu cầu đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Chính vì vậy, sau khi thực hiện phản tố thì bị đơn sẽ chủ động trong việc chứng minh yêu cầu phản tố của mình để đảo bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho chính mình3. Theo tác giả Nguyễn Huy Đẩu thì bắt đầu của vụ kiện là việc nguyên đơn "sử dụng tố quyền để thỉnh cầu Tòa án công nhận quyền lợi. Nhưng còn có những lời thỉnh cầu khác trong lúc giao đấu đang tiếp diễn, đó là những lời thỉnh cầu phụ đới.

Nếu lời thỉnh cầu là của bị đơn, nghĩa 2. Nguyễn Khánh Toàn (2011), Từ điển Tiếng Việt cỡ nhở, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. Đoàn Văn Tình (2015), Bàn về phản tố trong tố tụng dân sự Việt Nam, Nội san Khoa học, Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, tr. 10 là bị đơn không muốn giữ thế thủ nữa mà chuyển qua giai đoạn tấn công trở lại, thì là đơn phản tố.

Về nội dung đơn phản tố phải có liên thuộc với đơn chính (đơn khởi kiện), chứ không thể được hoàn toàn tự do, không ăn nhập với nội vụ"4. Trong các văn bản pháp luật TTDS, thuật ngữ "phản tố " lần đầu xuất hiện lần đầu trong BLTTDS năm 2004. Tuy nhiên, cho đến BLTTDS năm 2015 cũng không đưa ra định nghĩa thế nào là phản tố mà chỉ liệt kê các trường hợp phản tố được chấp nhận tại khoản 2 Điều 200, dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau về quyền phản tố của bị đơn. Để giải thích về quyền phản tố của bị đơn, trước đây, Điều 11 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" có hướng dẫn: "Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng về yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn". Theo hướng dẫn này thì phản tố chỉ là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn. Đến Điều 12 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của BLTTDS năm 2011, hướng dẫn: "Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết". Theo hướng dẫn này thì phản tố không chỉ là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn mà còn bao gồm cả việc bị đơn kiện ngược lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Nxb Khai trí, Sài Gòn, tr. 11 Trong pháp luật TTDS Việt Nam, khi nguyên đơn khởi kiện bị đơn và đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý thì Tòa án có trách nhiệm thông báo việc thụ lý vụ án cho bị đơn và các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Thông thường khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của nguyên đơn, có ba xu hướng xảy ra đối với bị đơn: (1) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; (2) Bác bỏ hay phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; (3) Kiện ngược lại nguyên đơn. Trong trong trường hợp nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về việc khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có thể đưa ra yêu cầu độc lập chống lại cả nguyên đơn và bị đơn.

Trong trường hợp này, bị đơn có thể kiện ngược lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Như vậy, có thể thấy quyền phản tố của bị đơn chính là việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về một yêu cầu có liên quan đến vụ án mà nguyên đơn đã kiện bị đơn. Về bản chất, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập, tuy nhiên, việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong cùng vụ án dân sự đã phát sinh trên cơ sở đơn khởi kiện của nguyên đơn sẽ làm cho việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên đương sự được nhanh hơn, tiết kiệm chi phí tố tụng cho cả đương sự và Tòa án. Cần phân biệt yêu cầu phản tố với quyền đưa ra ý kiến phản đối của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo đó, chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn) 5.Tuy nhiên, yêu cầu phản tố không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn là không cùng với quan hệ pháp luật mà nguyên đơn đã khởi kiện hay không cùng với yêu cầu cụ thể mà nguyên đơn khởi kiện bị đơn là vấn đề còn có các quan điểm khác nhau. Trong quá trình giải 5. Thái Chí Bình, Quy định về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, vướng mắc, kiến nghị hoàn thiện, http://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1787, ngày 8/4/2015. 12 quyết vụ án bị đơn có thể đưa ra nhiều yêu cầu khác nhau, song không phải yêu cầu nào cũng được coi là yêu cầu phản tố.

Qua các phân tích trên cho thấy, tiêu chí để xác định yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận thụ lý, giải quyết trong cùng vụ án thì yêu cầu đó phải đảm các các điều kiện: (1) Thông thường yêu cầu phản tố của bị đơn là để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Theo đó, yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Hoặc yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vì không có căn cứ.

Hoặc giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn. Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh 13 chóng hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ