Chương 1. Cơ sở lý luận về năng lực áp dụng pháp luật của thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự Chương 2. Thực trạng năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân ở Hải Phòng.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái quát về năng lực áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự 1. Khái niệm Thẩm phán Theo quy định tại khoản 1, Điều 102 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013: "TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" [30]. Theo đó, Tòa án là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết các tranh chấp xảy ra trong xã hội, "bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" [30].
Tòa án thực hiện chức năng xét xử của mình thông qua Thẩm phán và HTND. Đội ngũ Thẩm phán ra đời khá muộn mặc dù nhiệm vụ xét xử đã có từ rất lâu và không thể thiếu trong bộ máy nhà nước. Dưới chế độ Chiếm hữu nô lệ, Nhà vua là người đại diện cho pháp luật, đồng thời có quyền xét xử. Khi mà quyền lực nhà nước được chia thành ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập nhau, kiềm chế đối trọng nhau thì cũng đồng nghĩa với sự tách biệt của Tòa án ra khỏi quyền hành pháp và lập pháp.
Từ đó một đội ngũ chuyên làm nhiệm vụ xét xử - Thẩm phán ra đời. Cho tới ngày nay, Thẩm phán đã tham gia xét xử vào tất cả các lĩnh vực của đời sống, đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế, xã hội. Hiện nay, một hệ thống các văn bản pháp luật, Từ điển Luật học đã làm sáng tỏ được rất nhiều về khái niệm Thẩm phán. Theo từ điển Luật học và Điều 65 của Luật tổ chức TAND đã xác định Thẩm phán là: 1.
Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử. Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2 của Luật này và các luật có liên quan” [30]. Như vậy, Thẩm phán là một chức danh tư pháp, chỉ người làm việc trong Tòa án, nhân danh Nhà nước tham gia vào các hoạt động xét xử. Thẩm phán là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.Có trình độ cử nhân luật trở lên.
Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cũng theo quy định tại Điều 66 của Luật tổ chức TAND thì Thẩm phán TAND gồm có: Thẩm phán TANDTC; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp. Hoạt động xét xử là một hoạt động nghề nghiệp đặc thù so với các nghề nghiệp khác ở chỗ hoạt động xét xử của Thẩm phán đòi hỏi một trình độ chuyên môn cao trong các lĩnh vực pháp luật, chính trị và xã hội. Hầu hết họ phải có kiến thức trên mọi lĩnh vực, bởi lẽ họ là người đại diện cho nền công lý, cho lẽ phải cho công bằng của toàn xã hội.
Vậy hoạt động xét xử là nghề nghiệp của Thẩm phán có một số đặc điểm, đặc trưng sau: Thứ nhất: Tính đặc thù trong ADPL. Tính đặc thù trong ADPL thể hiện ở chỗ, Thẩm phán với vai trò là người đưa ra phán quyết dựa trên những chứng cứ khách quan, thực tế, không định kiến với mục đích duy nhất là bảo vệ công lý. Tất cả mọi tư vấn tranh luận tại phiên tòa phải đảm bảo sự bình đẳng cho các bên trong vụ án. Mọi hành vi ép buộc làm ảnh hưởng tới sự khách quan đối với phán quyết của Thẩm phán đều trái với mục đích ADPL.
Đặc thù này khẳng định Thẩm phán phải là người hết sức vô tư, tôn trọng bằng chứng, xem xét đứng đắn các bằng 9 chứng thực tế mà mỗi bên đương sự đưa ra trong quá trình giải quyết vụ án của mình. Thứ hai: Hoạt động xét xử là một cuộc đấu tranh tìm ra sự thực khách quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và toàn bộ kiến thức cần thiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án trên cơ sở bằng chứng thực tế. Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực.
Họ phải rất khéo léo và nhạy bén tại phiên tòa, giai đoạn tố tụng cuối cùng rất quan trọng. Để không bị cám dỗ trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh tinh thần của người Thẩm phán đòi hỏi họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý chí. Mục tiêu cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục đích mà toàn bộ nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu tình đạt lý, đảm bảo tính đúng đắn của bản án, không bỏ lọt kẻ phạm tội. Phán quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong toàn bộ dân chúng.
Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát. Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của HTND chính là sự giám sát ở bên trong phiên tòa. Khi xét xử HTND ngang quyền với Thẩm phán, cùng Thẩm phán đưa ra quyết định đúng pháp luật. Thứ ba: Hoạt động này đòi hỏi một con người toàn diện, bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan.
Đây không những là đặc thù nghề nghiệp Thẩm phán mà còn là các tiêu chuẩn mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể có kiến thức rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho công bằng vô tư, một tâm hồn trong sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và người Thẩm phán mới tạo dựng được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó. Người Thẩm phán phải 10 bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý chí trước bất kỳ sự việc nào.
Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên hình ảnh một nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý. Thứ tư: Hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định. Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo đảm phán quyết đó thấu tình đạt lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự tố tụng chặt chẽ là điều dễ hiểu.
Việc quy định như vậy tránh sự tùy tiện lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Tòa án cấp trên xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Như vậy, từ các phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa khái niệm Thẩm phán như sau: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án. Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, Thẩm phán có vị trí rất quan trọng và có vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước, đó là quyền tư pháp.
Trong điều kiện xây dựng NNPQ Việt Nam XHCN, với chủ trương xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ và nghiêm minh thì việc củng cố và tăng cường vai trò, địa vị pháp lý của Thẩm phán gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động và kiện toàn tổ chức của tòa án là yêu cầu cơ bản và quan trọng hàng đầu hiện nay. Khái niệm hoạt động áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự Áp dụng pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật cơ bản, có tính chất đặc biệt. Sự phân định thành bốn hình thức thực hiện pháp 11 luật cũng chỉ mang tính tương đối, trên thực tế, giữa các hình thức thực hiện pháp luật luôn có mối quan hệ mật thiết. Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần được thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa.
Mục đích của việc ban hành văn bản pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do Nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Do vậy, vấn đề không phải chỉ là xây dựng và ban hành thật nhiều các văn bản pháp luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho những yêu cầu, quy định của chúng trở thành hiện thực. Là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật. Áp dụng pháp luật thể hiện tính quyền lực nhà nước, mang tính tổ chức chặt chẽ theo những thủ tục và trật tự đã được pháp luật quy định và là hoạt động mang tính sáng tạo, mặc dù được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước, cụ thể là những người có thẩm quyền.
Áp dụng pháp luật thể hiện sự khác biệt so với các hình thức thực hiện pháp luật khác qua việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cá nhân hay nhóm cá nhân được Nhà nước trao quyền luôn luôn chủ động trong việc ADPL, nghĩa là việc thực hiện ADPL là nghĩa vụ của chủ thể có quyền [9, tr.