ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI SẢN PHẨM KHOA HỌC ĐỀ TÀI KH&CN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA Tên đề tài Tiếng Việt: Chính sách pháp luật tố tụng dân sự đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam Tiếng Anh: Civil procedure law policy meeting the demand of the Fourth Industrial Revolution in Vietnam Mã số đề tài: QG.73 Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Bích Thảo Đơn vị chủ trì đề tài: Trƣờng Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội HÀ NỘI, 2024 Hà Nội, .… 1 DANH MỤC SẢN PHẨM KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI QG.73 Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ TT Tên sản phẩm thuật cần đạt Làm rõ được khái niệm, nội dung, đặc điểm, vai Luận cứ khoa học về cơ sở lý trò của chính sách pháp luật tố tụng dân sự trong luận về chính sách pháp luật tố bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh 1 tụng dân sự đáp ứng yêu cầu nghiệm của các quốc gia điển hình trên thế giới của cuộc cách mạng công về xây dựng chính sách pháp luật tố tụng dân sự nghiệp lần thứ tư đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Phân tích, luận giải, làm rõ những tác động và Báo cáo phân tích tác động và yêu cầu đặt ra đối với chính sách pháp luật tố yêu cầu đặt ra đối với chính tụng dân sự ở Việt Nam trong bối cảnh cách sách pháp luật tố tụng dân sự ở 2 mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay trên các Việt Nam trong bối cảnh cách khía cạnh: tổng quan, các nguyên tắc cơ bản, mạng công nghiệp lần thứ tư thẩm quyền, hệ thống tổ chức tư pháp dân sự, hiện nay chứng cứ, và thủ tục tố tụng dân sự Phân tích, đánh giá được thực trạng chính sách pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay, đánh Báo cáo thực trạng chính sách giá được mức độ đáp ứng với yêu cầu của cuộc pháp luật tố tụng dân sự Việt cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên các khía 3 Nam và mức độ đáp ứng với cạnh: tổng quan, các nguyên tắc cơ bản, thẩm yêu cầu của cuộc cách mạng quyền, hệ thống tổ chức tư pháp dân sự, chứng công nghiệp lần thứ tư cứ, và thủ tục tố tụng dân sự, chỉ rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 2 Mô hình lý luận về chính sách Đề xuất được mô hình lý luận về chính sách pháp pháp luật tố tụng dân sự ở Việt luật tố tụng dân sự ở Việt Nam để đáp ứng những 4 Nam để đáp ứng những yêu cầu yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ của cuộc cách mạng công tư nghiệp lần thứ tư Đạt yêu cầu nội dung và hình thức của tạp chí quốc tế, phản ánh kết quả nghiên cứu của đề tài Bài báo khoa học đăng tạp chí 5 về mô hình chính sách pháp luật tố tụng dân sự quốc tế ISI/Scopus đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam 3 SẢN PHẨM 1 LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƢ 1. Lý luận về chính sách pháp luật và chính sách pháp luật tố tụng dân sự 1. Tổng quan về chính sách “Chính sách” là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến chính trị, nhà nước và pháp luật.
Theo Từ điển tiếng Việt, “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” 1. Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích thêm: “Chính sách – những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” 2.
Ngoài ra, theo Từ điển Oxford Dictionary, chính sách (policy) được định nghĩa là “một hướng hay nguyên tắc hành động được đặt ra bởi chính quyền, đảng phái, doanh nghiệp hay cá nhân”3. Hiện nay, ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách. Theo học giả Vũ Cao Đàm, “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Như vậy tác giả tiếp cận khái niệm “chính sách” theo nghĩa chung, rộng nhất, đó có thể là chính sách công của một quốc gia, một khu vực hành chính, hay chính sách tư của một doanh nghiệp, một tổ chức… Trong khi đó, PGS.
Đinh Dũng Sỹ tiếp cận khái niệm “chính sách” theo nghĩa hẹp hơn, từ góc độ “chính sách 1 Hoàng Phê (chủ biên), “Từ điển tiếng Việt”, NXB. 2 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1 A-Đ, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, tr. 3 Angus Stevenson, Oxford Dictionary of English, Oxford University Press, London 2010, tr. 4 công”, theo đó, chính sách là sự cụ thể hóa đường lối chính trị của đảng cầm quyền và dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền để định ra chính sách.4 Ngoài ra, có quan điểm lại hiểu chính sách trong mối quan hệ với cơ chế là “những chủ trương thích ứng với các đặc điểm và điều kiện kinh tế-xã hội của từng giai đoạn phát triển và nhằm vào việc bảo đảm cho sự vận hành đúng hướng và tích cực của cơ chế kinh tế”.5 Trong văn bản pháp luật thực định Việt Nam lần đầu tiên có định nghĩa pháp lý về “chính sách”: “Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định”.6 Trên thực tế, các chủ thể tư (tổ chức xã hội, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp…) cũng ban hành và thực hiện chính sách, chẳng hạn, chính sách giá, chính sách nhân lực, chính sách thị trường, chính sách cạnh tranh của doanh nghiệp… Nhưng chính sách tư không giống chính sách công ở tính chất “công” của chính sách, từ mục đích, nguyên tắc ban hành, đến nội dung, hình thức và phương thức, nguồn lực, chủ thể thực hiện cũng khác nhau.
Trong đề tài, khái niệm “chính sách” sẽ được tiếp cận theo nghĩa hẹp có nghĩa là chính sách công của đảng cầm quyền, không bao gồm chính sách của các tổ chức thuộc khu vực tư. Với ý nghĩa đó, chính sách có những đặc điểm sau đây:7 Thứ nhất, chính sách là tư tưởng, định hướng, mong muốn mà nhà cầm quyền cần hướng tới, cần đạt được trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội. Thứ hai, chính sách thể hiện đường lối chính trị của đảng cầm quyền. Dựa vào đường lối chính trị, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà chính sách được hoạch định, do đó chính sách luôn gắn liền với quyền lực chính trị, với đảng cầm quyền và bộ máy quyền lực công (nhà nước).
Chính sách có nền tảng là một đường lối nhất định mà nội dung, phạm vi và tính chất của chính sách phụ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội …ở từng thời kỳ khác nhau của đất nước.8 Chính sách thường được thể hiện trong các nghị quyết, cương lĩnh, chiến lược của đảng cầm quyền. 4 Đinh Dũng Sỹ, Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật trong hoạt động lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 127, tháng 7/2008, tr. 5 Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Lê Anh, Mối quan hệ hữu cơ giữa thể chế, cơ chế, chính sách, cơ chế điều hành và hành vi ứng xử, Tạp chí Hội nhập và phát triển, số 22 (32) - tháng 05-06/2015, tr. 6 Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020) 7 Đinh Dũng Sỹ, Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật trong hoạt động lập pháp, Tlđd.
8 Nguyễn Ngọc Chí, Chính sách pháp luật thi hành án hình sự: Một số vấn đề lý luận, VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 4 (2019) 30-48 5 Thứ ba, chính sách là cơ sở để hình thành nên pháp luật, hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách và là phương tiện thể hiện của chính sách. Chính sách và pháp luật có những điểm khác biệt như sau: Một là, nếu chính sách là những tư tưởng, định hướng, những mong muốn chính trị được thể hiện trong các nghị quyết, các văn kiện của Đảng thì pháp luật được thể hiện bằng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được ban hành bởi Nhà nước theo những trình tự và thủ tục nghiêm ngặt (hình thức, thẩm quyền, quy trình soạn thảo và ban hành) và được bảo đảm thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Hai là, nếu chính sách (khi chưa được luật hóa) là những cái đích cần hướng tới, chưa phải là những quy tắc xử sự có tính ràng buộc chung hay tính bắt buộc phải thực hiện, thì pháp luật lại là những chuẩn mực có giá trị pháp lý bắt buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Ba là, khi đã được thể chế hóa, vì chính sách là nội dung, pháp luật là hình thức nên chính sách có vai trò chi phối, quyết định đối với pháp luật. Khi chính sách thay đổi thì pháp luật phải thay đổi theo. Ngược lại, pháp luật là công cụ, phương tiện thể hiện chính sách. Chính sách muốn đi vào cuộc sống một cách thực sự hiệu quả thì phải đựợc luật hoá, nếu không được thể chế hóa thành pháp luật thì chính sách khó có thể đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong cuộc sống, mà chỉ mang tính tuyên ngôn, kỳ vọng.