CHƯƠNG 1. NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE QUYEN TỰ ĐỊNH DOAT CUA DUONG SỰ TRONG GIAI DOAN XÉT XU SƠ THAM VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền tự định đoạt của đương sự trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án dân sự 1. Khái niệm quyền tự định đoạt của đương sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Đề làm rõ về quyền tự định đoạt của đương sự trong giai đoạn xét xử sơ thấm vụ án, ta cần phải làm rõ một số khái niệm liên quan, dẫn dắt như: vụ án dân sự, tố tụng dân sự, đương sự, quyền tự định đoạt.
* Khái niệm vu an dân sự: Trước khi BLTTDS năm 2004 (Bộ luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, trong pháp lệnh số 27-LCT/HDNN8 năm 1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; pháp lệnh số 31-L/CTN năm 1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và pháp lệnh số 48-L/CTN về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động tồn tại ba khái niệm: Vụ án dân sự, vụ án kinh doanh thương mại, vụ án lao động mà không có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và vụ việc dân sự. Theo đó, vụ án dân sự bao gồm cả những vụ việc tranh chấp và những vụ việc không có tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được tòa án thụ lý và giải quyết. Tuy nhiên, kế từ khi BLTTDS năm 2004 được ban hành; BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 và kế đó là BLTTDS năm 2015, quy định về thủ tục tố tụng chung để giải quyết các vụ việc dân sự phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự; hôn nhân gia đình; kinh doanh thương mại và lao động. Trong đó, vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự.
Khái niệm vụ án dân sự được dùng để chỉ các tranh chấp diễn ra trong nhiều lĩnh vực: dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do các bên đương sự khởi kiện ra Tòa án và được Tòa án thụ lý, giải quyết. Khái niệm việc dân sự dùng để chỉ các yêu cầu không có sự tranh chấp giữa các bên đương sự, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc giải quyết một số vấn đề về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và được Tòa án thụ lý, giải quyết. Các tranh chấp về dân sự bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả những tranh chấp về hôn nhân và gia đình, tranh chấp trong kinh doanh thương mại và tranh chấp lao động được các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự nhằm bảo vệ công lý; Bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; Quyền va lợi ích hợp pháp của mình hoặc các bên chủ thé khác theo quy định của pháp luật. Từ đó, có thê hiểu “Vu án dân sự là tranh chap về quyên và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động do cơ quan, tô chức, cá nhân khởi kiện yêu cau Tòa án có thẩm quyên giải quyết theo thủ tục tổ tụng dân sự dé bảo vệ lợi ích của mình hoặc của chủ thể khác và được Tòa án thụ lý giải quyết”.
* Khái niệm về Té tụng dân sự: Tố tụng là một phan trong pháp luật quốc gia, là tổng thé bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh trình tự, thủ tục tranh tụng. Tố tụng ở Việt Nam được phân chia thành ba loại bao gồm: tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính. Trong đó, tố tụng dân sự được hiểu là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cá nhân, tổ chức khác góp phan giải quyết vụ việc dan sự, mà thông thường là những vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại vảo lao động theo quy định của pháp luật. Ở mỗi giai đoạn tố tụng dân sự khác nhau như khởi kiện, chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa sơ thẩm, kháng cáo kháng nghị, thủ tục phúc tham,., các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiễn hành tố tụng, người tham gia tố tụng sẽ thực hiện 10 những công việc khác nhau để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đinh pháp luật.
Mỗi một giai đoạn tô tung dân sự đều có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ việc dân sự theo quy định pháp luật. Hiện nay, khi nói về các giai đoạn tổ tung dân sự theo quy định của pháp luật, có hai quan điểm như sau: quan điểm thứ nhất cho rằng tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án và việc thi hành án dân sự. trong khi quan điểm thứ hai cho rằng tố tụng dân chỉ bao gồm quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án, còn thi hành án dân sự là một quá trình độc lập với tố tụng dân sự. Đối với những người ủng hộ quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình hoạt động tố tụng dân sự, là hoạt động tiếp nối với xét xử nhằm đưa bản án, có xét xử thì phải có thi hành, thi hành dựa trên cơ sở của công tác xét xử, thi hành và xét xử là hai mặt thống nhất của quá trình tố tụng dan sự.
Trong khi đó, những người ủng hộ quan điểm thứ hai coi thi hành án không phải là một giai đoạn tố tụng, mang tính tư pháp mà là một giai đoạn mang tính quản lý hành chính - tư pháp có sự tách biệt không thuộc quá trình tố tụng. Bởi vì khác với mục đích của tố tụng dân sự là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vu việc theo đúng quy định của pháp luật, còn mục đích của thi hành án dân sự là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện phán quyết của Tòa án bằng bản an, quyét định có hiệu lực pháp luật. Mối quan hệ của các chủ thê trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự bảo đảm sự bình đăng, công khai, dân chủ, còn mối quan hệ giữa các chủ thé trong hoạt động thi hành án mang tinh chất hành chính, mệnh lệnh liên quan. Mỗi quan điểm trên đều có những căn cứ, cơ sở khoa học riêng, tuy nhiên, tác giả đồng tinh với quan điểm thứ nhất rằng tô tụng dân sự chỉ bao gồm quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án, còn thi hành án thiên về hoạt động quản lý hành chính — tư pháp hơn bởi những lý do đã nêu ở trên.
Bên cạnh đó, dù theo quan điểm nào thì thi hành án dân sự đều được xem là một thủ tục độc lập so với thủ tục xét xử tại 11 Tòa án, nên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này sẽ không đề cập đến quyền tự định đoạt của đương sự tại giai đoạn thi hành án dân sự. * Khái niệm về giai đoạn xét xử sở thẩm: Trong lĩnh vực dân sự, khi tranh chấp dân sự phát sinh thì để bảo vệ quyên va lợi ích hợp pháp của mình, các chủ thé có thé tự mình bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thâm quyên bảo vệ, thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án. Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử sẽ xem xét, đánh giá và ra phán quyết giải quyết tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau. Đề đảm bảo tính thận trọng, chính xác, khách quan, đúng pháp luật của bản án, quyết định thì việc xét xử của Tòa án được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo chế độ hai cấp xét xử là xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thâm.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin thì “Sơ thẩm ” là việc “xét xử lan dau một vụ việc ở Tòa án cấp thấp ” [38]. Với các tiếp cận này, vụ án dân sự sơ thâm có thê được hiểu là việc giải quyết xét xử lần đầu vụ án dân sự tại Tòa án theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự. Dưới góc độ khoa học pháp lý thì khái niệm xét xử vụ án dân sự sơ thâm cũng được tiếp cận dưới nhiêu góc độ khác nhau như là “giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án dân sự”, “chê định sơ thâm vụ án dân sự”, “thủ tục xét xử sơ thâm vụ án dân sự” và “cấp xét xử sơ thâm vụ án dân sự”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xem xét xét xử sơ thâm dưới góc độ là một giai đoạn trong tố tụng dân sự, bao gồm toàn bộ quá trình Tòa án cấp sơ thâm xét xử lần đầu vụ án dân sự ké từ khi có việc khởi kiện của các cơ quan, tô chức, cá nhân tới khi ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung vụ án dân sự đúng đắn, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Vụ án dân sự sơ thâm bao gồm các hoạt động như: Nộp đơn khởi kiện, thụ ly vụ án, chuẩn bị xét xử, hòa giải, mở phiên tòa và xét xử sơ thẩm vụ an dân sự. 12 * Khai niệm đương su: Đương sự trong tố tụng dân sự là các chủ thể có quyền, có nghĩa vụ, có lợi ích liên quan trong vụ việc dân sự cần phải giải quyết, vậy nên đương sự có quyền tự do quyết định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Việc khởi kiện hay không khởi kiện là do đương sự tự quyết định, như vậy đương sự là các chủ thé có vai trò đặc biệt quan trọng và không thé thiếu trong tố tụng dân sự nói chung và giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án dân sự nói riêng, bởi vì lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng. Đương sự theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý thì bao gồm: “Cá nhân, pháp nhân tham gia tô tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan.