Luận án tiến sĩ: Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự - Nguyễn Thị Thúy Hằng

Luận án tiến sĩ phân tích sâu về các biện pháp và chính sách nhằm đảm bảo quyền lợi tố tụng của đương sự trong hệ thống tố tụng dân sự Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đảm bảo quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự

Đảm bảo quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự là một chủ đề trọng tâm của khoa học pháp lý Việt Nam. Quyền tố tụng được hiểu là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho đương sự khi tham gia tố tụng dân sự. Các quyền này bao gồm quyền khởi kiện, quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền lợi hợp pháp, quyền được biết và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh yêu cầu cải cách thủ tục tư pháp theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch. Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự là cơ sở để giải quyết vụ án chính xác, khách quan và mang lại niềm tin công lý cho người dân. Chủ đề này được nghiên cứu chuyên sâu trong luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Thúy Hằng, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2019.

1.1. Khái niệm quyền tố tụng của đương sự

Quyền tố tụng của đương sự là tổng hợp các quyền được pháp luật tố tụng dân sự quy định, cho phép cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia tố tụng. Các quyền cơ bản gồm: quyền khởi kiện, quyền cung cấp chứng cứ, quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, quyền được bào chữa và tự bảo vệ, quyền tham gia phiên tòa, quyền khiếu nại quyết định tố tụng. Những quyền này tạo nền tảng cho nguyên tắc tranh tụng trong xét xử dân sự.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu đảm bảo quyền tố tụng của đương sự có tính cấp thiết xuất phát từ nhiều yếu tố. Thứ nhất, xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi tiêu chuẩn bảo vệ quyền con người ngày càng cao. Thứ hai, cải cách tư pháp theo Nghị quyết 48-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện chế độ bảo hộ quyền lợi hợp pháp của công dân. Thứ ba, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự còn nhiều bất cập, quyền tố tụng của đương sự chưa được bảo đảm đầy đủ trên thực tế.

II. Phân tích các vấn đề trong bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

Việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự hiện nay đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết. Pháp luật tố tụng dân sự đã quy định khá đầy đủ các quyền của đương sự, bao gồm quyền khởi kiện, quyền thay đổi bổ sung yêu cầu, quyền cung cấp chứng cứ, quyền yêu cầu trưng cầu giám định, định giá tài sản. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn nhiều hạn chế. Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền tố tụng chưa đồng bộ, thiếu chế tài xử lý vi phạm. Một số quy định còn chung chung, chưa rõ ràng dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau. Vai trò của Tòa án trong việc tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền chưa được phát huy đầy đủ. Viện Kiểm sát thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đôi khi chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi đương sự. Các thiết chế giám sát như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc cũng cần được phát huy hiệu quả hơn.

2.1. Hạn chế trong quy định pháp luật tố tụng dân sự

Một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền tố tụng của đương sự còn chưa cụ thể, thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện. Ví dụ, quyền được biết và sao chụp tài liệu hồ sơ vụ án đôi khi bị hạn chế trên thực tế. Quyền yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ khi đương sự tự mình không thể thực hiện được chưa có quy trình rõ ràng. Thời hạn giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng cũng cần được quy định chi tiết hơn.

2.2. Vấn đề thực thi quyền tố tụng trên thực tế

Thực tiễn cho thấy nhiều đương sự chưa nhận thức đầy đủ về quyền tố tụng của mình. Một số trường hợp Tòa án chưa tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự thực hiện quyền bào chữa, quyền cung cấp chứng cứ. Việc thông báo, triệu tập đương sự tham gia phiên tòa chưa đảm bảo thời hạn hợp lệ. Chất lượng hòa giải tại tòa còn hạn chế, dẫn đến đương sự không được tham gia quá trình giải quyết tranh chấp một cách thực chất và hiệu quả.

III. Giải pháp hoàn thiện bảo đảm quyền tố tụng của đương sự

Để hoàn thiện việc bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước tiên, pháp luật tố tụng dân sự cần quy định cụ thể, chi tiết hơn về các quyền tố tụng và cơ chế bảo đảm thực hiện. Thứ hai, cần nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc tôn trọng và tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền. Tòa án phải thực hiện đúng quy định về thời hạn, thủ tục, không cản trở đương sự thực hiện quyền tố tụng. Thứ ba, vai trò của Viện Kiểm sát cần được tăng cường trong việc kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự. Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc đối với hoạt động tư pháp. Thứ năm, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức của người dân về quyền tố tụng của mình. Cuối cùng, cần xây dựng đội ngũ thẩm phán, thư ký tòa án có trình độ chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp vững vàng.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý tố tụng dân sự

Giải pháp trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền tố tụng của đương sự. Cần bổ sung cơ chế bảo đảm thực hiện quyền, quy định chế tài xử lý vi phạm. Các quy định về thời hạn, trình tự thủ tục cần được hệ thống hóa, dễ tiếp cận. Đồng thời, cần ban hành hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật để tránh cách hiểu khác nhau giữa các tòa án địa phương.

3.2. Nâng cao năng lực và trách nhiệm chủ thể tố tụng

Cần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho thẩm phán, thư ký tòa án về bảo đảm quyền tố tụng. Xây dựng quy tắc đạo đức nghề nghiệp nghiêm ngặt. Tăng cường vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền lợi đương sự. Hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động của người tiến hành tố tụng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, thông báo, tạo điều kiện cho đương sự tiếp cận thông tin vụ án dễ dàng hơn.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu đảm bảo quyền tố tụng

Nghiên cứu về đảm bảo quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa cơ sở khoa học về quyền tố tụng, phân tích mối quan hệ giữa quyền tố tụng với các nguyên tắc tố tụng dân sự. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung pháp luật tố tụng dân sự. Các đề xuất, kiến nghị của luận án hướng tới hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tố tụng, nâng cao chất lượng xét xử. Kết quả nghiên cứu áp dụng được cho công tác đào tạo luật, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp. Đồng thời, nghiên cứu cũng phục vụ hoạt động xây dựng pháp luật, đặc biệt trong quá trình sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bảo đảm quyền tố tụng đầy đủ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự, bảo vệ công lý và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

4.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài nghiên cứu

Luận án tiến sĩ đã đóng góp quan trọng vào kho tàng khoa học pháp lý Việt Nam. Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, nội hàm khái niệm quyền tố tụng của đương sự. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa quyền tố tụng với nguyên tắc bình đẳng, tranh tụng trong xét xử. Hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá mức độ bảo đảm quyền tố tụng. So sánh kinh nghiệm quốc tế về bảo đảm quyền tố tụng để rút ra bài học cho Việt Nam.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng

Kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. Các giải pháp đề xuất phục vụ trực tiếp quá trình sửa đổi pháp luật tố tụng dân sự. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo quý giá cho hoạt động đào tạo luật tại các trường đại học. Cán bộ tư pháp có thể vận dụng kết quả nghiên cứu để nâng cao chất lượng xét xử. Người dân cũng được hưởng lợi khi quyền tố tụng được bảo đảm tốt hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Đảm bảo quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự luận án tiến sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự Quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế và các quốc gia coi trọng và xem đó như là một thành tựu của nền văn minh trong thời đại ngày nay; là thước đo của sự tiến bộ xã hội, không phân biệt hệ tư tưởng, chế độ chính trị, bản sắc văn hóa, trình độ phát triển của các quốc gia [84, tr. “Quyền con người là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để tồn tại một cách thích đáng” [113].

Do đó, quyền con người luôn được Nhà nước ta coi trọng và bảo đảm thực hiện. Với sự ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp, trong các Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước đã tạo hành lang pháp lý vững chắc để mọi người có thể thuận lợi trong việc tham gia thực hiện các quyền đó. Quyền con người, mà biểu hiện của nó ở cấp độ quốc gia là các quyền công dân. Quyền công dân cũng là quyền con người được áp dụng trong điều kiện, hoàn cảnh của một quốc gia, với công dân của một quốc gia, chứ không phải là một dạng thức khác biệt về bản chất với quyền con người [42, tr.

Như vậy, quyền công dân chỉ là quyền con người được pháp luật các quốc gia ghi nhận và áp dụng cho công dân của nước mình. Các quốc gia khác nhau quy định quyền công dân cũng không giống nhau. Quyền công dân ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào các quan hệ pháp luật mà họ tham gia để pháp luật ghi nhận các quyền pháp lý phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Các quyền pháp lý của công dân được cụ thể hóa trong Hiến pháp, Bộ luật và các văn bản quy phạm pháp luật.

Trong các quyền con người, các quyền về dân sự được xem là có tính chất nền tảng, cơ bản, thiết yếu nhất. Cũng như các quyền con người khác, các quyền về dân sự của các chủ thể được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và được bảo hộ chặt chẽ. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 16/12/1996 đã bảo đảm rằng: bất cứ người bào bị xâm phạm các quyền và tự do được công nhận trong công ước này thì đều được bảo hộ pháp lý một cách hiệu quả [76, tr. Theo tiến sĩ Trần Phương Thảo, quyền tìm đến Tòa án để nhờ Tòa án bảo vệ cũng là một quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 19 19/12/1948 [76, tr.

Khi quyền và lợi ích dân sự của chủ thể được pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo hộ bị xâm phạm thì pháp luật trao cho chủ thể có quyền, lợi ích dân sự các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các quyền tố tụng này được thực hiện trong quá trình tố tụng dân sự trước Tòa án. Do vậy, cần phải xác định được thời điểm bắt đầu và kết thúc trình tự tố tụng để đương sự có thể thực hiện các quyền tố tụng được pháp luật trao cho. Nếu xét theo nghĩa rộng thì TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.

Còn xét theo nghĩa hẹp thì TTDS chỉ bao hàm trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án. Kết quả nghiên cứu cho thấy xét về bản chất thì “tố tụng” được hiểu là việc kiện cáo trước Tòa án [46, tr.687] hay “tố tụng” là phương thức pháp lý do pháp luật thiết lập nhằm bảo đảm việc thi hành công lý đúng đắn [108]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Đẩu cho rằng “tố tụng” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latinh (procedure), được hiểu là một đường lối phải tuân theo để đi tới chổ thắng kiện [36]. Trong một công trình nghiên cứu của mình tác giả Alexandre Ciaudo nhận định, “tố tụng có thể được định nghĩa như là một chuỗi liên kết những hành động hoặc các thủ tục nhằm đưa ra một quyết định, cũng như các quy định và các nguyên tắc chỉ đạo cho chuỗi liên kết này” [111, tr.

Tố tụng có thể hiểu là quá trình kiện tụng tại Tòa án và được Tòa án chấp nhận giải quyết. TTDS là trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự [83, tr. Tuy nhiên, trình tự tố tụng trước Tòa án là việc thực hiện các hành vi của các chủ thể tố tụng, trong đó có đương sự thực hiện hành vi tố tụng trước Tòa án, từ khi bắt đầu có yêu cầu khởi kiện cho đến khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng của vụ án [19, tr. Các đương sự tham gia vào quá trình tố tụng được pháp luật trao cho các quyền tố tụng nhất định để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình.

Quyền tố tụng của đương sự là một khái niệm được các nhà khoa học nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo tác giả Robert G.Bone “có thể xem quyền tố tụng thực sự là một quyền” và định nghĩa “quyền tố tụng như là một quyền về bộ tiêu chuẩn tối thiểu của tố tụng để bảo đảm được tính chính xác cao nhất” [103, tr.Bone cũng nhận xét: “Một điều khá phổ biến trong lĩnh vực tố tụng dân sự là việc phê bình các nguyên tắc tố tụng với lý do chúng tạo nên gánh nặng cho “quyền” tố tụng của một bên, hoặc bảo vệ cho sự cải cách vì mục tiêu thúc đẩy các quyền tố tụng. Với công trình nghiên cứu này tác Robert G.Bone cho rằng quyền tố tụng là một quyền và quyền tham gia phiên tòa, các quyền khác 20 như quyền được nhận thông báo hợp lệ, quyền tranh tụng…phát sinh dựa trên cơ sở quyền tố tụng, việc xây dựng các quyền khác nhằm mục đích hỗ trợ, bảo đảm cho việc thực hiện quyền tố tụng của đương sự. Ở Việt Nam quyền tố tụng của đương sự cũng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Theo tiến sĩ Nguyễn Công Bình thì “quyền tố tụng là cách xử sự mà pháp luật quy định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự thực hiện. Tùy theo mục đích, tính chất tham gia quan hệ tố tụng của các chủ thể mà pháp luật TTDS quy định cho các chủ thể các quyền tố tụng dân sự nhất định” [32, tr. Tuy không đưa ra một định nghĩa cụ thể phân tách giữa quyền và nghĩa vụ TTDS nhưng nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, “việc pháp luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự là rất cần thiết, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng và đúng đắn. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ” hay “các quyền, nghĩa vụ tố TTDS của đương sự thể hiện trong các lĩnh vực như sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước Tòa án; quyết định quyền, lợi ích của mình trong TTDS; khiếu nại, tố cáo các hành vi trái pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tố tụng” [32, tr.

Các quyền tố tụng cơ bản được pháp luật trao cho đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình trong tố tụng bao gồm được quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án; được chứng minh, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án; được tiếp cận chứng cứ, tài liệu; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được hòa giải với nhau về quyền, lợi ích tranh chấp; kháng cáo, khiếu nại, trong đó có khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.v… Từ các quyền tố tụng cơ bản này, Nhà lập pháp sẽ cụ thể hóa thành các quyền tố tụng cụ thể như quyền khởi kiện, giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ từ 21 Tòa án. Các quyền tố tụng này của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cũng như nhiệm vụ của Tòa án, Viện Kiểm sát. Khi nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Đỗ Thị Hà đã đưa ra khái niệm quyền tố tụng của đương sự, theo đó quyền tố tụng của đương sự “là quyền năng được pháp luật tố tụng dân sự quy định cho đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước. Các quyền năng này được đương sự sử dụng để bảo vệ các quyền năng dân sự tại Tòa án và được Tòa án bảo đảm thực hiện” [19, tr.

Theo hướng tiếp cận trên, quyền tố tụng dân sự của đương sự mang tính pháp lý “được ghi nhận trong luật”, thông qua việc ghi nhận các quyền tố tụng dân sự của đương sự, Nhà nước cung cấp những quyền năng, những chuẩn mực pháp lý để các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTDS thực hiện. Như vậy, quyền tố tụng của đương sự trong TTDS có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể được hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng, cách thức xử sự mà pháp luật TTDS quy định cho các đương sự được thực hiện khi tham gia tố tụng tại Tòa án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ