Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN 1. Khái niệm về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án Đề tài đi vào nghiên cứu về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án. Tuy nhiên, để có thể làm rõ vấn đề này thì chúng ta cũng cần nhận diện được những khái niệm cơ bản về thẩm quyền và phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án.
Khái niệm thẩm quyền được nghiên cứu, đề cập đến trong pháp luật của nhiều nước khác nhau trên thế giới. Có quan điểm cho rằng thẩm quyền là quyền xét xử, bao gồm nhiều mặt nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể quy định quyền xét xử của Tòa án. Nội dung của nó do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và các điều kiện khác quyết định. Theo quan điểm của một số nước trên thế giới như ở Pháp thì, "thuật ngữ thẩm quyền (compétence) được hiểu là khả năng mà pháp luật trao cho công quyền hoặc cơ quan tài phán thực hiện công việc nhất định hoặc thẩm cứu và xét xử một vụ kiện" [51].
Theo Từ điển luật học của Mỹ thì "thẩm quyền được hiểu là một khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật" [50]. Trong tiếng Anh, thuật ngữ Jurisdition được dùng để chỉ thẩm quyền hoặc quyền tài phán của Tòa án. Còn theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2003 thì "thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật" [49]. Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan tổ chức thuộc hệ thống bộ 6 máy nhà nước do pháp luật quy định.
Điểm chung về thẩm quyền của Tòa án đều được các nước thừa nhận là quyền xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó. Quyền xem xét giải quyết vụ việc và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó là hai nội dung quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án. Ở nước ta hiện nay, các Tòa án được tổ chức theo các đơn vị hành chính lãnh thổ. Tòa án cấp huyện chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các việc mà pháp luật quy định, trong khi đó Tòa án cấp tỉnh có quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Tòa án nhân dân tối cao có quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Vì vậy, thẩm quyền dân sự của Tòa án được hiểu là quyền của Tòa án đối với việc xem xét và ra các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Trong các loại thẩm quyền trên thì thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án có vai trò quan trọng. Bởi vì, sơ thẩm là cấp đầu tiên giải quyết vụ việc dân sự bằng một phiên tòa sơ thẩm hoặc phiên họp.
Thuật ngữ "vụ việc dân sự" được sử dụng ở đây với hàm ý, bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự phát sinh do có tranh chấp về quyền lợi ích giữa các chủ thể trong các quan hệ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng đương sự yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý hoặc công nhận các quyền, nghĩa vụ nhất định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án như sau: Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án là quyền của Tòa án trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm dân sự.
Vậy phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án có nghĩa là như thế nào? Việc nhận diện khái niệm và xác định nội hàm của khái niệm này sẽ 7 là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu và định hướng của việc nghiên cứu. Hiện nay, ở Việt Nam, hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp hành chính đồng thời trong mỗi cấp Tòa án lại có các Tòa chuyên biệt theo từng lĩnh vực. Đó là các Tòa chuyên về từng loại việc như các Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa được giải quyết tất cả các loại việc ví dụ như Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, chúng ta có thể thấy thẩm quyền của Tòa chuyên biệt và thẩm quyền của Tòa án là hai khái niệm khác nhau.
Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa chuyên biệt về bản chất là thẩm quyền theo loại việc của các Tòa chuyên biệt (Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động) trong cùng một cấp Tòa án theo nhóm quan hệ pháp luật nội dung có cùng tính chất. Còn thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án được tiếp cận dưới ba góc độ bao gồm: thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việc, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án các cấp và thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ. Trong đó, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việc là thẩm quyền chung của Tòa án trong việc thụ lý giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự. Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án các cấp là thẩm quyền sơ thẩm của một cấp Tòa án nào đó (cấp huyện, cấp tỉnh) trong việc thụ lý giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự.
Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo lãnh thổ là thẩm quyền của một Tòa án trong việc thụ lý, giải quyết một vụ việc dân sự cụ thể. Trong quá trình thụ lý vụ việc dân sự nói chung, Tòa án bao giờ cũng phải xem xét là vụ việc đó có thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án theo loại việc hay không. Sau đó mới tiến hành xác định những vấn đề tiếp theo, đó là vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp nào và trong số các Tòa cùng cấp đó thì Tòa án nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Với mong muốn cung cấp cho người nghiên cứu luật học, người thực hành nghề luật một góc nhìn toàn diện khi nhận đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, hai vấn đề chính yếu về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự 8 của Tòa án sẽ được tập trung nghiên cứu.
Cụ thể đề tài này không đi vào nghiên cứu về thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việc mà chỉ tập trung vào việc xác định một vụ việc dân sự nếu có phát sinh tại Tòa án thì Tòa án nào sẽ có thẩm quyền thụ lý giải quyết. Theo logic này thì hai vấn đề mang tính tổng thể và xuyên suốt mà Tòa án cần xác định, bao gồm việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp, việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp theo phạm vi lãnh thổ. Như vậy, khi phát sinh một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việc thì Tòa án nhận đơn sẽ phải tiếp tục dựa vào luật thực định để xác định xem vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nào (Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện, quận, thị xã…) và bước sau cùng là xác định trong số các Tòa án cùng cấp đó thì Tòa án cụ thể nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Có thể thấy, đây chính là hai nội dung cơ bản cần làm rõ để có thể phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án với nhau.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án như sau: Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án cấp huyện với Tòa án cấp tỉnh và phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp theo phạm vi lãnh thổ. Ngoài ra, chúng ta có thể xem xét vấn đề này dưới cách nhìn khác, đó là phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là việc Tòa án dựa trên những tiêu chí nhất định (theo cấp hay theo lãnh thổ) để quyết định một vụ việc thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án sẽ thuộc quyền xem xét giải quyết của một Tòa án cụ thể nào. Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án Trong các loại thẩm quyền (thẩm quyền sơ thẩm dân sự, thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm) thì thẩm quyền sơ thẩm dân sự của 9 Tòa án có ý nghĩa và tầm quan trọng hơn cả. Việc phân định đúng thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án sẽ là cơ sở để xác định đúng thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Việc xây dựng các tiêu chí để xác định thẩm quyền của Tòa án có ý nghĩa tạo cơ sở pháp lý để phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các cấp Tòa án và giữa các Tòa án cùng cấp với nhau trong việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự. Việc Tòa án áp dụng đúng pháp luật để xác định đúng đắn, chính xác những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án sẽ tránh tình trạng giải quyết không đúng thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các Tòa án trong việc thụ lý giải quyết. Ngoài ra, việc phân định đúng thẩm quyền sẽ tránh được những vụ việc bị hủy để xét xử sơ thẩm lại, gây mất thời gian, tổn phí vật chất cho cả Tòa án và đương sự. Mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và luật đã quy định.
Các cơ quan này tuyệt đối không được phép hoạt động ngoài thẩm quyền của mình. Sự phân định thẩm quyền là điều kiện cần thiết đảm bảo cho bộ máy tư pháp hoạt động bình thường, không chồng chéo lên nhau.