CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE Li THUYET LIEN QUAN DEN DE TAI 1. Thơ và ngôn ngữ thơ 1. Khái niệm thơ Thơ là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm khi con người bắt đầu có những cảm nhận tỉnh tế về cuộc sống, về thế giới xung quanh,về cỏ cây, hoa lá, vạn vật. Qua hàng ngàn năm lịch sử cùng với thời gian thơ như dòng nước len lỏi vào sâu thắm tâm can, trái tim con người làm mềm hóa những tâm hồn cằn côi hướng con người tới Chân - Thiện - Mỹ.
Dưới đây là một số quan niệm của các nhà nghiên cứu về thơ: Mã Giang Lân: “Thơ là một thông báo thẩm mĩ trong đó kết hợp 4 yếu tố: Ý - Tình - Hình - Nhạc "[25]. Ö đây Mã Giang Lân muốn đề cao mối quan hệ khăng khít, hòa quyện giữa ý nghĩa, cảm xúc, hình ảnh và tính nhạc trong thơ. Phan Ngọc: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ. phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này ”[27].
Qua phát biêu “la” này, Phan Ngọc muốn đề cao giá trị của ngôn từ trong thơ. Ngôn từ trong thơ phải được chất lọc, gọt rũa để đạt tới sự kết tỉnh giữa cảm xúc và lý trí. Chế Lan Viên: “Thơ là một sản phẩm của tâm hôn, trí tuệ con người. Thơ phải xuất phát từ thực tại, tù đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hỗn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hỗn, trí tuệ ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay ”[41].
Theo Chế Lan Viên thơ là kết tỉnh của tâm hồn và trí tuệ. Thơ phản ánh thực tại, tác động trở lại thực tại để tạo dấu ấn trong thực tại. Tóm lại trong quá trình vận động, phát triển của đời sống xã hội sẽ còn nhiều quan niệm mới về thơ ra đời. Tuy nhiên để tiện cho việc nghiên cứu chúng tôi xin dẫn ra định nghĩa về thơ trong cuốn 7 điển thuật ngữ văn học làm cơ sở triển khai đề tài: “Thơ jà hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu "[L7].
Đặc trưng ngôn ngữ thơ 1.L Bình diện ngữ âm - âm vị học Trước hết thơ là hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt mang thuộc tính thâm mĩ về ngữ âm. Nói đến thơ là nói đến các yếu tố nằm trong sự vận dụng nghệ thuật hình thức âm thanh ngôn ngữ. Đó là sự hoà phối về âm thanh, là ngắt dòng, ngắt nhịp, là sự hiệp vần. Các đơn vị âm thanh như nguyên âm, thanh điệu, phụ âm cùng với các thuộc tính âm thanh như cường độ, cao độ, trường độ góp phần tạo nên nhạc điệu cho thơ.
Tiếng Việt có số lượng thanh điệu phong phú (6 thanh); các thanh có phẩm chất về âm vực (cao/thấp) và đường nét (bằng phẳng /gãy); có số lượng nguyên âm và phụ âm đa dạng, số lượng lớn (13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi, 22 phụ âm đầu, 8 4m cudi.) được khai thác và tổ chức trong thơ nhằm tạo tiết tấu, nhạc điệu cho thơ nên âm hưởng khi du đương trầm bồng, khi dìu đặt ngân nga. Khi khai thác nhạc tính trong thơ, ta cần chú ý đến những sự đối lập sau: đối lập về trầm bồng, khép/ mở của các nguyên âm làm đỉnh vần; đối lập về tắc- vang, tắc -điếc (vô thanh) giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các âm cuối kết vần; đối lập cao thấp, bằng/ trắc của các thanh điệu. Ngoài việc tổ chức các đơn vị âm thanh theo sự đối lập, vần và nhịp thơ cũng góp phần quan trọng tạo nên nhạc tính cho thơ ca. Như đã biết, phát ngôn bao giờ cũng phải thể hiện bằng một ngữ điệu.
Mỗi dòng thơ, câu thơ chứa trong bản thân nó một loại ngữ điệu đặc biệt, người ta gọi đó là nhạc thơ. Nhạc thơ được tạo nên bởi ba yếu tố chính là âm điệu, vần điệu và nhịp điệu. Tuỳ thuộc từng bài thơ cụ thể mà một trong ba yếu tố đó có vai trò nỗi bật hơn. Trong bất cứ bài thơ nào, vai trò của ba yếu tố này cùng được xác lập thì thi phẩm càng giàu nhạc điệu và ấn tượng ngữ nghĩa càng phụ thuộc nhiều hơn ấn tượng ngữ âm.
Về âm điệu, tính đối lập của âm tiết tiếng Việt được quy định bởi các thành phần cấu tạo nên chứ không phải đơn vị nào khác, là cơ sở tạo nên âm điệu trong thơ cách luật tiếng Việt. Âm điệu là một khái niệm được xác lập trong thế tương quan với vần điệu, nhịp điệu và thanh điệu (tức sự phối thanh). Về vần điệu, đây là khái niệm chưa có tính ồn định cao. Trước hết cần hiểu khái niệm vần trong âm tiết.
Âm tiết tiếng Việt bao gồm ba bộ phận độc lập: âm đầu, thanh điệu, và phần còn lại. Bộ phận thứ ba mang âm sắc chủ yếu của âm tiết. Nó là bộ phận đoạn tính duy nhất kết hợp với thanh điệu tạo nên vần thơ, nên tạm gọi là phần vần. Như vậy, phần vần của âm tiết (cùng với thanh điệu) là yếu tố quan trọng nhất tạo nên vần thơ.
Vần thơ có thê được hiểu như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau. Vần thơ là do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy mình được biểu lộ rõ ràng hơn, có sự vang động đều đặn. Vần là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ. Dù hiểu theo cách nào, vần luôn là yếu tố quan trọng tạo nên sự hòa âm giữa các câu thơ, dòng thơ.
Dựa vào thanh điệu, người ta chia vần thơ thành vần trắc (âm tiết có thanh sắc, ngã, hỏi, nặng) bao gồm nhóm trắc thường (âm tiết có thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và thanh nặng và nhóm trắc nhập (âm tiết có các âm cuối p, t, ch, c mang thanh sắc và thanh nặng) và vần bằng (âm tiết có thanh ngang và thanh huyền). Dựa vào vị trí hiệp vần ta có vần chân (vần liền, vần cách, vần ôm) và vần lưng. Dựa vào mức độ hòa âm giữa các âm tiết, ta có vần chính, vần thông và vần ép. Dựa vào cách kết thúc âm tiết tham gia hiệp vần có vần mở (vần đơn), vần nửa mở, vần nửa khép, vần khép (vần phức).
Về nhịp điệu giao tiếp thông thường được hình thành từ tính phân phối ngữ nghĩa. Có thể hiểu nhịp điệu là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng nghỉ, chỗ ngắt hơi trên những đơn vị cơ bản như câu thơ (dòng thơ), khô thơ, thậm chí đoạn thơ. Tùy từng thể thơ mà có cách ngắt nhịp khác nhau và có cả su chi phối của cá tính sáng tạo của nhà thơ. Thơ tự do phù hợp với sự tự do trong tâm hồn.
Vì vậy, sự ngắt nhịp trong thơ tự do rất phong phú và đa dạng. Yếu tố tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng nghỉ 10 trong sự phân bố mà chưa theo sự chế định của thể thơ hoặc sự biến thiên đa dạng của cảm xúc, thi hứng. Chuỗi âm thanh của lời thơ được chia tách thành những đơn vị tiết tấu, tức là ngắt hơi nhỏ nhất và ngừng hơi. Sự ngắt nhịp ngoài sự chỉ phối của cú pháp, cảm xúc còn có sự chi phối của vần thơ, tạo nên tính nhạc cho lời thơ.
Cách ngắt nhịp, tạo nhịp trong thơ đa dạng, muôn màu, tuỳ câu, tuỳ khô, tuỳ bài thơ cụ thể. Nhịp là yếu tố cơ bản, là xương sống của bài thơ và là tiền đề cho hiện tượng hiệp vần trong thơ. Tính nhạc là đặc trưng quan trọng của thơ trong sự phân biệt với ngôn ngữ văn xuôi. Bình diện ngữ nghĩa Trong thơ ngôn ngữ cô đọng, từ ngữ và hình ảnh đa nghĩa, súc tích.
Mỗi từ ngữ khi được đưa vào thơ đều đã trải qua cân nhắc lựa chọn của tác giả và được đặt vào những vị trí nhất định. Nhà thơ phải chấp nhận một thứ lao động khổ sai, nhọc nhằn vì Thơ là một lạng cảm xúc cộng với một tạ mồ hôi. Khi các chữ của nhà thơ được viết ra từ những rung động của tâm hồn, từ nhịp đập của trái tim thì cũng làm cho trai tim người đọc rung động theo. Như vậy, thơ không phải là có sẵn ý nghĩa, thơ trước hết là sự rung động.
Vậy là ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong văn xuôi và có sự khác biệt với ngữ nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày. Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản cấu thành tác phẩm thi ca. Dù âm thanh và ý nghĩa trong thơ được nghiên cứu một cách độc lập thì hai bình diện này bao giờ cũng được bao hàm một cách tất yếu. Bởi vì sự tương đồng giữa các âm thanh được chiếu lên chuỗi tiết tấu như là nguyên lí cấu thành nó thế nào cũng bao hàm tính tương đồng ngữ nghĩa.
Bình diện ngữ pháp Trong ngôn ngữ thơ, nếu như bình diện ngữ âm tương liên với bình diện ngữ nghĩa thì bình diện ngữ âm cũng có quan hệ với ngữ pháp. Sự lặp lại một hình tượng ngữ pháp cùng với sự lặp lại một hình tượng ngữ âm là nguyên tắc cấu tạo của một tác phẩm thơ. Đôi khi những tương phản trên bình 11 diện tổ chức ngữ pháp đã tạo áp lực đối với việc phân chia bài thơ thành những khổ thơ hoặc những phần của khổ thơ như câu thơ (dòng thơ). Đi vào cụ thể về phương diện ngữ pháp, câu thơ, đòng thơ không hoàn toàn trùng nhau.
Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, ngược lại, cũng có những dòng thơ chứa nhiều câu thơ. Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất thường về cú pháp như đảo ngữ, tách câu, câu vắt dòng, câu trùng điệp. mà không ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn bản, trái lại chính những bất thường về cú pháp lại tạo nên những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn từ thi ca. Sử dụng các kiểu câu bất thường về cú pháp có khả năng vô tận trong việc truyền tải những trạng thái tỉnh tế, bí 4n trong thế giới nội tâm con người, giúp nhà thơ diễn đạt được những thành phần ngữ nghĩa đa dạng trong sự hữu hạn về số lượng câu chữ.