CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỪ VÀ TỪ TƯỢNG HÌNH TIẾNG VIỆT 1. Khái quát chung về từ Tiếng Việt 1. Khái niệm từ Tiếng Việt Có thể nói từ vựng của một ngôn ngữ vô cùng quan trọng. Nó là cơ sở cùng với cơ sở ngữ pháp làm thành ngôn ngữ.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã coi việc xác định các đơn vị từ vựng là việc làm hàng đầu và có tầm quan trọng đặc biệt. Vậy từ là gì? Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về từ nhưng chưa có định nghĩa nào được coi là đầy đủ và phù hợp với tất cả các ngôn ngữ. Ở mỗi một ngôn ngữ, từ có thể khác nhau không chỉ về kích thước vật chất mà chúng còn khác nhau về cách thức được biểu thị, tổ chức trong nội bộ cấu trúc, mối quan hệ với các đơn vị khác.Ở Việt Nam cũng có rất nhiều các định nghĩa khác nhau. Có thể nhắc tới một số khái niệm tiêu biểu như sau: Tác giả Hồ Lê trong “Vấn đề cấu tạo của Tiếng Việt hiện đại” (1976) cho rằng: Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính chất nhất thể về ý nghĩa.
[22, tr 104] Từ, theo Nguyễn Thiện Giáp thì được hiểu là “một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền. [11, tr 69] Nhóm tác giả Mai Ngọc Trừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt” thì cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu". [24, tr170] Đỗ Hữu Châu trong “Giáo trình Từ vựng học Tiếng Việt” cho rằng: “Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp 8 nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống Tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu.[3, tr 29] Theo quan điểm này thì đặc điểm cơ bản của Tiếng Việt cần chú ý ở các phương diện sau: Đặc điểm về hình thức ngữ âm: đó là tính bất biến về hình thức ngữ âm của từ. Định nghĩa đã khẳng định đơn vị ngữ âm tạo nên hình thức ngữ âm của từ Tiếng Việt là âm tiết, nhưng số lượng âm tiết trong một từ có thể là một cũng có thể là một số.
Ví dụ, các từ : nhà, áo, mua, đẹp. là những từ một âm tiết, còn các từ: tắc kè, ba hoa, axit, ra đi ô, mì chính, vằn thắn,. là những từ nhiều âm tiết. Tuy nhiên, dù một hay nhiều âm tiết, thì hình thức ngữ âm của từ có đặc điểm tiêu biểu là ranh giới của từ trùng với ranh giới của âm tiết.
Điều này có nghĩa là trong câu, nơi âm tiết bắt đầu cũng có thể là nơi bắt đầu một từ, nơi kết thúc âm tiết cũng có thể là nơi kết thúc của từ. [3, tr 30, 31] Kiểu cấu tạo là một đặc điểm cần chú ý để nhận diện từ. Kiểu cấu tạo nên từ có tham gia vào việc xác định từ về ngữ nghĩa và về ngữ pháp. Ví dụ: bốn từ: bạn hữu, ốc nhồi, bồ hóng, phấp phỏng thuộc về bốn kiểu cấu tạo khác nhau cho nên chúng khác nhau về kiểu ngữ nghĩa.
[3, tr 31] Đặc điểm ngữ pháp là một trong những đặc điểm quyết định tư cách của một đơn vị nào đấy. Nó vừa chi phối đặc trưng ngữ nghĩa, vừa chi phối khả năng tạo câu của từ. [3, tr 31] Đặc điểm về ngữ nghĩa. Đây là đặc trưng quan trọng bậc nhất để khẳng định tư cách của một hình thức ngữ âm nào đấy.
[3, tr 31] Như vậy, các đặc tính nêu trong định nghĩa là thuộc tính mà hợp thể của chúng cho ta một từ. Khi xác định một hình thức nào đấy có phải là một từ không, chúng ta phải lần lượt xem tất cả các đặc điểm: hình thức ngữ âm, kiểu cấu tạo, đặc điểm ngữ pháp, ý nghĩa, khả năng độc lập tạo câu, tính sẵn có, bắt buộc. Chúng tôi cho rằng quan điểm của Đỗ Hữu Châu là một trong những định nghĩa về từ được chấp nhận và bao trùm đầy đủ các đặc điểm 9 của từ Tiếng Việt và đây cũng là quan điểm mà chúng tôi lấy làm cơ sở để nghiên cứu từ tượng hình. Phương thức cấu tạo từ Tiếng Việt 1.1 Các phương thức cấu tạo từ Cho đến nay, các nhà nghiên cứu cơ bản nhất trí từ Tiếng Việt được cấu tạo theo ba phương thức: - Từ hóa hình vị - Ghép hình vị - Láy hình vị Phương thức từ hóa hình vị: tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của nó.
Những từ như: nhà, xe, áo. là những từ hình thành do từ hóa các hình vị: nhà, xe, áo. Theo tác giả hiện nay phương thức này chủ yếu tác động vào các hình thức ngữ âm mô phỏng âm thanh và các yếu tố vay mượn [4, tr28]. Phương thức ghép: là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa như một từ.
Ví dụ: phương thức ghép tác động vào hình vị xe, đạp sẽ cho một từ là xe đạp [4, tr29]. Với phương thức ghép, Tiếng Việt ngày càng sản sinh được nhiều từ mới đáp ứng nhu cầu gọi tên trong đời sống hàng ngày, nhất là trong việc biểu đạt những khái niệm mới trong các lĩnh vực khoa học, văn hóa, tư tưởng. Phương thức láy: là phương thức tác động vào hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh, ví dụ: xanh xanh, lom khom, loắt choắt, lênh đênh, vò võ. Theo các nhà nghiên cứu, phương thức láy sản sinh ra hoàng loạt từ có quan hệ ngữ âm và ngữ nghĩa theo một nguyên tắc nhất định.
Tuy nhiên khi xem xét một số trường hợp cụ thể, theo chúng tôi có một số từ nằm giữa ranh giới ghép và láy chưa được phân biệt rõ ràng, chẳng hạn như: chán chường, máy 10 móc, lửng lơ.và các trường hợp khác như: lớp lớp (ví dụ : lớp lớp mây cao đùn núi bạc). Theo quan điểm của Nguyễn Thị Thanh Hà trong luận án “Giá trị nghệ thuật và các phương thức sử dụng hiện tượng láy trong thơ ca Việt Nam” (2002), cần phải chú ý đến các trường hợp mà lâu nay người ta quen gọi là từ láy song thực chất chúng chỉ là hiện tượng nhắc lại kiểu: vâng vâng, phải phải, hiện tượng nói đay: người với chả ngợm, hiện tượng lặp: vâng vâng, dạ dạ. Đối với các từ mô phỏng âm thanh, tác giả cho rằng về hình thức cấu tạo chúng có thể là theo phương thức láy và có thể là theo phương thức ghép. Như vậy, các từ thuộc hiện tượng láy chỉ bao gồm dạng láy và từ láy đích thực được cấu tạo theo phương thức láy.
Khi xem xét cấu tạo từ tượng hình theo phương thức láy chúng tôi đi theo quan điểm này. Từ sự phân tích trên có thể thấy các từ Tiếng Việt cấu tạo theo 3 phương thức: từ hóa hình vị, láy và phương thức ghép sẽ cho ta ba kiểu từ là: - Từ đơn. - Từ ghép gồm: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập. Từ đơn Theo Đỗ Hữu Châu “Từ đơn là những từ một hình vị.
Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ" [4, tr 40] Tác giả đã chỉ ra rằng “đại bộ phận các từ đơn thuần Việt hay đã Việt hóa là một âm tiết” [4, tr 40]. Chúng mang đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ Tiếng Việt.
Với đặc trưng về ngữ nghĩa như trên, chúng được dùng để cấu tạo hàng loạt từ phức. Từ láy Do các từ láy được hình thành từ phương thức láy tác động vào hình vị cơ sở nên ý nghĩa của các từ này được hình thành từ ý nghĩa của hình vị cơ sở. Đỗ 11 Hữu Châu đã cho rằng “Phương thức láy tạo ra những từ láy mà ý nghĩa hoặc đột biến hoặc sắc thái hóa ý nghĩa của hình vị cơ sở” [4, tr 49], ví dụ: trùng trình, pha phôi, lỗ chỗ, kháu khỉnh, nhẹ nhàng.Theo ông “Mặc dầu các từ láy tính từ và từ láy động từ do chỗ được sản sinh từ các hình vị cơ sở khác nhau đôi chút song hiệu quả ngữ nghĩa chung của chúng vẫn là: thứ nhất, diễn đạt sự lặp đi lặp lại, kéo dài trải rộng của tính chất, hoặc hoạt động, động tác; thứ hai, biểu thị các trạng thái động của sự vật, hiện tượng; thứ ba, có khả năng gợi các ấn tượng cụ thể, có tính hình ảnh đậm nét; thứ tư, có khả năng biểu thái phản ánh cách đánh giá, tình cảm, sự cảm thụ chủ quan của người nói đối với sự vật hiện tượng được nêu ra” [4, tr52]. Cách lý giải về nghĩa của từ láy như vậy đã nêu được khá đầy đặc trưng cơ bản của chúng.
Chính đặc trưng này mà rất nhiều tác giả khi nghiên cứu về hệ thống từ mô phỏng đã cho rằng từ tượng hình được cấu tạo theo phương thức láy chiếm tỉ lệ cao so với phương thức khác Trong một số công trình nghiên cứu, tác giả Phi Tuyết Hinh, Hoàng Văn Hành đã chỉ ra ý nghĩa biểu trưng ngữ âm của từ láy. Chẳng hạn Phi Tuyết Hinh cho rằng từ láy vần mà phụ âm đầu thường đi với nhau theo từng cặp và nhóm từ có chung cặp phụ âm đầu thì có những nét nghĩa chung như: - Nhóm có cặp phụ âm L-T (lả tả, lẻ tẻ, li ti.) thường biểu thị những sự vật thấp bé hoặc trạng thái bị phân tán. - Nhóm có cặp phụ âm L-Th (lơ thơ, loáng thoáng.) chỉ sự thưa vắng. Có thể nói, láy là phương thức tạo từ đặc sắc của Tiếng Việt.