Chương 1: Dung hợp văn thể và đặc điểm thơ từ trong tiểu thuyết HLM. Chương này, Luận văn đi vào tìm hiểu 2 khía cạnh: 19 1.Hiện tượng dung hợp văn thể trong tiểu thuyết HLM: Tuy phạm vi được giới hạn trong HLM, song chúng tôi cũng sơ lược đề cập đến hiện tượng này trong tiêu thuyết cô điển TQ nói chung.Đặc điểm thơ từ trong tiểu thuyết HLM. Mặc dù thơ từ trong tiểu thuyết chỉ là bộ phận sáng tác có tính độc lập tương đối, song đó lại là những trước tác của một thời, theo những thé thức hoàn chỉnh, chịu sự chế ước của bản thân thể loại, nên chúng vẫn xứng đáng được tìm hiểu với một thái độ vừa khách quan vừa tôn trọng. Chúng tôi coi đây là phần quan trọng của chương này, được khái quát từ công việc phiên dịch văn bản tác phẩm thơ từ tiêu biểu mà chúng tôi đã thực hiện (xin xem phần Phụ lục).
Chương 2: Thơ từ trong HLM với chủ đề tư tưởng tác phẩm. Chương này, chúng tôi bắt đầu đi sâu khảo sát một trong những chức năng quan trọng của thơ từ trong HLM, đó là sự thé hiện chủ dé tư tưởng của tác phẩm. Chủ dé tư tưởng của tác phẩm HLM được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó thơ từ giữ một vai trò quan trọng. Chương 3: Tho từ trong HLM với nghệ thuật kết cau và khắc họa nhân vật.
Chương này nối theo Chương 2, tiếp tục đi sâu tìm hiểu hai chức năng nghệ thuật khác của thơ từ liên quan đến nghệ thuật kết cầu và khắc họa nhân vật trong tiêu thuyết HLM. Về chức năng liên quan đến nghệ thuật kết cấu tiêu thuyết HLM, chúng tôi khảo sát 2 khía cạnh, đó là bố cục tác phẩm và nghệ thuật tổ chức tình tiết cốt truyện; về chức năng liên quan đến nghệ thuật khắc họa nhân vật, chúng tôi tiến hành khảo sát 2 khía cạnh chính: thir nhất là dự báo số phận của nhân vật; thir hai là khắc họa tính cách nhân vật. ĐÓNG GOP CUA DE TÀI -Thực hiện đề tài Luận văn này, chúng tôi đã tiến hành phiên dịch và chú giải toàn bộ bộ phận thơ từ trong tiểu thuyết HLM (Phu luc). Chúng tôi cho rằng, cùng với các bản dịch thơ (đã xuất bản), thì bản phiên dịch, chú giải 20 công phu của chúng tôi (nếu được xuất bản) cũng là cuốn sách thú vị cho những độc gia ham mê thưởng thức văn chương trong HLM.
Hiện tại, Phu lục của chúng tôi có ý nghĩa không nhỏ đối với việc nghiên cứu HLM từ góc độ thi pháp. Nó vẫn tiếp tục phát huy tác dụng khi chúng tôi thực hiện tiếp đề tài ở cấp độ khác cao hơn. -Luận van của chúng tôi mạnh dan di sâu tìm hiểu một vài khía cạnh về thi pháp tiểu thuyết HLM. Các khía cạnh này, đối với học giới ở TQ không có gi lạ, nhưng ở VN, đó vẫn là vẫn đề mới.
Chúng tôi hy vọng, Luận văn của mình sẽ có tác dụng nhất định trong việc đổi mới nhận thức đối với những đối tượng cũ. Từ Luận văn này, quan tâm của chúng tôi không chỉ dừng lại ở các van đề thi pháp tiêu thuyết cổ điển, mà dựa trên nền tảng của những van đề đó, còn di sâu tìm hiểu những van dé văn hóa ân sâu trong những hiện tượng thi pháp. Chúng tôi nghĩ, đó cũng là những gợi mở thú vị từ dé tài này. -Đề tài Luận văn của chúng tôi, với những nghiêm túc và nỗ lực đi sâu tìm hiểu văn bản tác phẩm, cũng sẽ giúp ích không nhỏ cho việc giảng dạy và học tập tiểu thuyết cổ điển TQ nói chung, tiêu thuyết HLM nói riêng.
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY Ngoài Bảng quy ước viết tắt áp dụng cho toàn bộ Luận văn (đặt ở đầu Luận văn), chúng tôi trình bày nghiêm túc theo Quy định của Trường Đại học KHXH&NV cho Luận văn Cao học. 21 NỘI DUNG CHÍNH CHUONG 1 DUNG HOP VAN THE VA DAC DIEM THO TU TRONG TIEU THUYET HONG LAU MONG 1.HIỆN TUONG DUNG HỢP VĂN THE TRONG HLM 1.Hiện tượng dung hợp văn thé trong tiểu thuyết cỗ điển TQ: Trước hết, cần phải nói, trong truyền thống thi ca trữ tình TQ, chúng ta đã từng thay sự xuất hiện của yếu tố tự sự trong những bài thơ trữ tình trường thiên. Chang hạn, ngay từ Thi Kinh đã thay những bài như Manh (Vệ Phong), Công Lưu, Miên (Đại Nhã); sau này trong dân ca Nhạc phủ đời Hán có Khổng tước đông nam phi (còn gọi là Tiêu Trọng Khanh thê), Mộc Lan thi; hay đến đời Đường xuất hiện các tác phẩm thơ tự sự của Đỗ Phủ (chùm Tam lai, Tam biệt.), của Bạch Cư DỊ (Trường hận ca, Tỳ bà hành, Tân phụ ngâm. Tuy nhiên, sự chú ý của học giả TQ lại có phần nghiêng về hiện tượng các thé vận văn như thi, từ, khúc, phú v.v hiện diện “tự nhiên nhi nhiên” trong tác phâm văn xuôi tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng: đặc biệt là ở tiểu thuyết bạch thoại thời Minh - Thanh, với những tác phẩm được coi là “tứ đại danh tác” như Tam Quốc diễn nghĩa, Thuy hu truyện, Tây du ký, HLM.
Ngược trở lại lịch sử văn học TQ, chúng ta thấy thơ ca đã xuất hiện trong truyền kì của văn nhân đời Đường, lại thấy hiện diện trong cả biến văn đời Đường (phát hiện trong hang động Đôn Hoàng); sau đó, thấy thơ từ xuất hiện dan xen trong thoại bản đời Tống - thủy tổ của tiểu thuyết bạch thoại Minh - Thanh; còn sau này, như chúng ta đều biết, không chỉ thơ từ, mà cả các thé vận văn khác như khúc, phú, đối liên v.v, đều thấy xuất hiện trong tiêu thuyết bạch thoại Minh - Thanh. Điều đó cho thấy rõ ràng, sự ảnh hưởng và thâm thấu của loại hình văn thé này đối với loại hình văn thé khác. 22 Theo thống kê của học giả TQ, chỉ tính riêng “tứ đại danh tác” thời Minh - Thanh, các tác giả đã dẫn thơ tổng cộng hơn 1700 bài, nhiều gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần so với truyền kì đời Đường, thoại bản thời Tống Nguyên và phỏng thoại bản thời Minh; trong đó, Tam Quốc diễn nghĩa dan 300 bài, Thuy hi truyện dẫn 576 bài, Tây du kí 714 bài và HLM 268 bài [74, 1]. Mối liên hệ giữa thơ từ, vận văn với văn xuôi tự sự trong tiêu thuyết cô điển TQ cũng thé hiện chiều hướng diễn tiến từ ít đến nhiều, từ thô đến tinh, từ điểm xuyết rời rạc đến gắn bó chặt chẽ, thống nhất hữu cơ.
Chăng hạn, số lượng thơ trong Thuy hi gần gấp đôi Tam Quốc diễn nghĩa, Tây du kí vượt xa Thủy hw; còn thơ từ trong HLM tuy ít hơn Tây du kí, nhưng thê thức lại phong phú đa dạng (đạt tới hơn 20 loại) và xuất hiện nhiều giai tác; đặc biệt hon, tho trong HLM không còn chỉ là “chất phụ gia” được tác giả thêm vào một cách cứng nhắc, hay chỉ là người khách xa lạ đến tạm trú dé tăng thêm vinh hạnh cho chủ, mà đã trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ, không thé tách rời với tình tiệt cot truyện và hình tượng nhân vật.Hiện tượng dung hợp văn thể trong tiểu thuyết HLM: Đối với tiêu thuyết HLM, hiện tượng dung hợp văn thé biểu hiện rat rõ. Các thé tài vận văn mà HLM đưa vào, có thé nói là phong phú đa dạng, vượt xa các tiểu thuyết trước đó. Nhà Hồng học Thái Nghia Giang trong HLM thi từ khúc phú bình chú cho rang, thé tài vận ngữ trong HLM có “tho, từ, khúc, phú, ca dao, ngạn ngữ, tán, văn điếu, kệ ngữ, câu đối, biển ngạch, dé đèn, tửu lệnh, bién văn, văn phỏng cổ., không thiếu thé nào. Nói về tho, có ngũ tuyệt, thất tuyệt, ngũ luật, thất luật, bài luật, ca hành, tao thể; thể tải có thơ vịnh hoài, thơ vịnh vật, thơ hoài cô, thơ tức sự, thơ tức cảnh, thơ dé; hình thức có han dé, han vận, hạn thể, cùng đề phân vịnh, phân đề hợp vịnh; có thơ ứng chế, liên cú, phỏng cổ, có thơ mô phỏng theo cách luật bài Xuân giang hoa nguyệt dạ thời sơ Duong, có thơ mô phỏng theo Trưởng hận ca, Kích âu ca thời Trung Van Đường, có thơ theo lỗi Li tao, Chiêu hồn nước Sở nhưng mạnh dan sáng 23 tạo., muôn mau muôn vẻ, phong phú đa dạng.
Đó thực sự là “văn bi chúng thể”, là điều chưa từng thấy trong các tiểu thuyết khác”.[55, 1-2] Chu Lôi trong bài tựa cuén sách HLM thi từ giải tích của Lưu Canh Lộ, cũng có những thống kê cụ thê về các thé vận văn trong tiêu thuyết HLM: TT | Thể loại Số bài 1 Thơ 81 2 |Từ 18 3. | Khúc 18 4 |Phú | 5_ |Ca 3 6_ |Kệ 4 7 Ca dao 1 8 Ngạn ngữ 1 9 Tan van 1 10 | Văn điều | II | Thơ dé đèn 13 12 | Đố thơ 11 13 | Đố khúc | 14 | Tửu lệnh l6 15 | Lệnh bài xúc xắc 7 16 | Bién văn 1 17 | Văn phỏng cổ 1 18 | Thu tin 3 19_ | Lời đoán 1 20 | Đối cú 2 21 | Đối liên 22 22_ | Biển ngạch 18 Thống kê ở trên bao gồm 225 bài, trừ đi 18 biển ngạch, còn lại 207 bài thơ văn. Qua bảng trên ta thấy, riêng thơ có tới 81 bài và từ gồm 18 bài. Cụ 24 thé hơn, về thé tài bộ phận thơ, bao gồm: ngũ ngôn tuyệt cú 4 bài, thất ngôn tuyệt cú 26 bải, ngũ ngôn luật thi 9 bài, thất ngôn luật thi 37 bài, bài luật 2 bài, ca hành 2 bai và nhạc phủ | bài.Nguyên nhân của hiện tượng dung hợp văn thể: Một câu hỏi chắc chắn sẽ được người đọc đương đại nêu ra: nguyên nhân nào khiến các tác gia tiêu thuyết ưa thích đưa văn van vào tiểu thuyết (trên thực tế, hiện tượng này đã từ trào lưu thời thượng định hình thành thê thức của thể loại tiêu thuyết)? Học giả Lý Van Quân, trong bài viết Chức năng của “thơ” trong tiểu thuyết trường thiên cổ điển TQ, cho rang có 5 nguyên nhân khiến các nhà tiêu thuyết cô điển TQ đưa thơ vào tiêu thuyết: Thứ nhất, do thơ cô của TQ da phan là thơ ngăn, dé đưa vào tiêu thuyết.
Thứ hai, đưa thơ vào đề nâng cao địa vị của tiểu thuyết, vì tiểu thuyết vốn không được xếp vào hàng “cửu lưu” (chính thống). Thứ ba, dua thơ vào dé tăng thêm ý vị của tiêu thuyết. Không ít tác giả của truyền kì đời Đường là những nhà thơ lớn, tiểu thuyết mà họ viết bản thân đã có chất thơ, lại thêm vào một số thơ nữa, nên ý vị thơ ca cảng thêm nồng đượm, ý cảnh càng thêm sâu sắc.