CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM 1.1 Khái niệm truyện cười Truyện cười hình thành từ trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam, nhưng nở rộ thực sự là vào giai đoạn suy vong của nó. Ở nước ta đó là khoảng thế kỉ XVII-XVIII, truyện cười là một hình thức đặc biệt phản ánh hiện thực bằng sự phê phán thông qua tiếng cười. Tiếng cười đơn giản nhất là tiếng cười nảy sinh từ sự phát hiện những mâu thuẫn xã hội, xã hội nào về mặt chính là phản động thì về mặt mỹ học là cái hài kịch. Khác với truyện ngụ ngôn là phản ánh sự vươn lên không ngừng của tư duy trong việc nhận thức xã hội loài người, thì truyện cười là sản phẩm của trí tuệ, luôn luôn phát hiện ra những mâu thuẫn thường xuyên xảy ra trong xã hội đó.
Truện cười nói một cách ngắn gọn hơn có thể được định nghĩa như sau: Truyện cười là những truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống, trong hành vi của người đời, nhằm gây ra tiếng cười. Có thể là tiếng cười mỉm, nhưng thường là cười giòn giã. Có thể là cười một cách vui vẻ, nhẹ nhàng nhưng thường là cười mà phẫn nộ, mà khinh ghét.1 Vị trí của truyện cười trong nền văn học dân gian Văn học trào phúng nói chung đã xuất hiện và phát triển thành một dòng trong nền văn học Việt Nam từ xưa đến nay. Và trong nền văn học phong phú và không bao giờ cạn ấy, có một điều hiển nhiên là truyện cười dân gian rất được quần chúng ưa chuộng, nó đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong kho tàng văn học dân gian.
Nếu như truyện cổ tích mô tả một cách sinh động cuộc sống và ước mơ của người bình dân, giúp họ suy nghĩ thêm về vận mệnh của mình, thì truyện cười gây ấn tượng mãi mãi không phai mờ về những màn kịch nhỏ trong tấn trò đời qua các thời đại. Trong quá trình phát 8 triển của lịch sử dân tộc. Nhân dân ta trong trường kì chiến đấu giành cơm áo tự do, không phải chỉ có trầm tư mặc tưởng, không phải chỉ biết hì hục làm việc, mà còn biết vui chơi một cách lành mạnh, nụ cười trên môi không bao giờ tắt, điều đó đã chứng minh rằng truyện cười có một vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân, nó góp phần làm cho cuộc sống trở nên vui vẻ, nhân dân cảm thấy đỡ mệt mỏi hơn sau một ngày lao động vất vả. Đồng thời truyện cười còn là nơi người ta gửi gắm những điều không thể nói, nó chính là thứ vũ khí sắc bén của nhân dân dùng để đấu tranh cho cuộc sống ngày hợp lí, tốt đẹp hơn.
Giai cấp phong kiến từ lâu đã trở thành một trở ngại trên con đường tiến hoá của dân tộc, cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến đã có cội rễ từ rất lâu, đặc biệt trong truyện cười ta lại càng thấy rõ hơn về điều đó. Hệ thống truyện cười đã góp phần vạch rõ những cảnh ngược đời trong xã hội phong kiến, sự giả tạo của những kẻ bốc lột, từ vua quan cho đến cường hào, cùng với bè lũ tay sai của chúng. Truyện cười đã giữ vị trí quan trọng, trong việc góp phần thúc đẩy sự tan rã nhanh chóng uy thế chính trị của giai cấp phong kiến lỗi thời. Không những vậy, chúng ta còn biết rằng cái lỗi thời, xấu xa không phải chỉ tìm thấy trong giai cấp bóc lột, mà còn có thể tìm thấy trong hang ngũ nhân dân lao động, trong cuộc sống đang tiến lên mà những tập tục cũ vẫn cứ níu giữ người ta lại, hơn nữa trong xã hội cũ, khi mà ý thức hệ chính thống của thời đại là ý thức hệ của giai cấp thống trị thì nhân dân một mặt đấu tranh chống giai cấp bốc lột, một mặt lại vẫn cứ chịu ảnh hưởng xấu của nó.
Cho nên truyện cười lại lần nữa có thể tìm thấy đối tượng trong những hành vi nào đó của một số người trong nhân dân lao động, tiếng cười này có ý nghĩa đấu tranh mạnh mẽ, không phải là đấu tranh chống giai cấp bốc lột mà đó còn là đấu tranh trong nội bộ nhân dân. Do đó mà ta có thể khẳng định rằng, truyện cười có một vị trí quan trọng trong nền văn học dân gian Việt Nam. Phân loại truyện cười Nghiên cứu truyện cười dân gian, ai nấy đều có thể dễ dàng nhận thấy những điểm sau đây: có truyện dài, nhiều sự việc, nhiều nhân vật, có truyện ngắn ít nhân vật, có truyện có khả năng gây cười mạnh mẽ, có truyện chỉ vừa đủ gây cười một cách nhẹ nhàng, thậm chí có truyện khiến ta vừa cười xong liền phải suy nghĩ, có truyện nhằm đạt yêu cầu giải trí là chính, có truyện lại kết hợp tác dụng giải trí với ý nghĩa phê phán, có truyện ít vận dụng nghệ thuật cường điệu, có truyện trái lại triệt để vận dụng nghệ thuật đó. Có truyện lấy đề tài trong sinh hoạt bình thường của người nông dân, có truyện lấy đề tài trong sinh hoạt của các tầng lớp khác như: nhà sư, thầy đồ, thầy bói, quan lại, trưởng giả….có truyện ít yếu tố tục, có truyện lại khiến tiếng cười nổ ra mạnh mẽ nhờ vận dụng yếu tố tục đúng chỗ, có truyện có kết luận hẳn hoi, có truyện lại buông lửng để người ta suy nghĩ về dụng ý bao hàm ở trong.
Vì vậy mà có rất nhiều cách phân loại truyện cười khác nhau, như trong bản tham luận đọc tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba, nhà văn Nguyễn Tuân đã nói: “Tổ tiên ta thật là những người nghệ sĩ tạo hình cho tiếng cười Việt Nam, tạo cho tiếng cười ta bao nhiêu là bóng dáng và có cả một cái gì như là một biên chế đầy đủ thang bậc về tiếng cười”[9;137]. Vậy chúng ta thử tìm hiểu bóng dáng và thang bậc ấy qua các loại truyện cười Việt Nam. Trong giáo trình của Đại học Sư phạm ( bản in lần thứ 3, nhà xuất bản Giáo dục 1970, trang 153-206). Truyện cười được chia làm ba loại: truyện trào phúng, truyện khôi hài, truyện tiếu lâm.
Trong giáo trình văn học dân gian tập hai ( dung trong các trường học Sư phạm), PGS Hoàng Tiến Tựu chia truyện cười thành hai loại: loại kết chuỗi và loại không kết chuỗi ( mỗi loại có các tiểu loại khác nhau) 10 Trong giáo trình Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây ( in lần đầu 1972, lần gần nhất 1977), Giáo sư Đinh Gia Khánh chia truyện cười làm hai loại: truyện khôi hài và truyện trào phúng ( gồm trào phúng bạn và trào phúng thù). Theo chúng tôi nghĩ cách phân loại truyện cười dễ được chấp nhận nhất có lẽ là cách phân loại trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, đã phân loại truyện cười như sau: Truyện cười chia thành hai loại chính: Truyện cười kết chuỗi: Là những mẫu giai thoại hài hước xoay quanh một nhân vật có thực được coi là có thực (Trạng). Nhưng đó là truyện. Còn con người, phải có một con người có thật, phải từ một con người có thật và ta đã tim được con người đó.
Đọc sách, đọc những bài phú và gia phả, tôi đủ tin, rất tin…. Các nhân vật ở loại truyện này thường chỉ được giới thiệu về thành phần, địa vị xã hội, giới tính chứ không có tên riêng (như anh lính hầu, anh đầy tớ, quan huyện, thầy đồ, lí trưởng, nhà sư….) có khi nhân vật chỉ được gọi tên bằng một tính cách (anh mê ngủ, anh sợ vợ, chị hay ăn quà, anh chàng lười…). Truyện cười không kết chuỗi (hay truyện cười phiếm chỉ) ở nước ta rất phong phú, đa dạng gồm nhiều tiểu loại khác nhau như: Truyện khôi hài(hay hài hước) tiếng cười có tác dụng mua vui là chủ yếu, không hoặc ít có tính chất phê phán đả kích. Truyện trào phúng (hay châm biếm) chứa đựng tiếng cười có nội dung phê phán, đả kích mạnh mẽ.
11 Truyện tiếu lâm: Là những truiyện cười dân gian mang yếu tố tục, có tác dụng gây cười mạnh mẽ.2 Hiện thực lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam Tình hình xã hội phong kiến Việt Nam có thể tóm lược như sau: Thế kỉ XV là thời kỳ toàn thịnh của xã hội Việt Nam, với sự lên ngôi của ý thức hệ phong kiến. Từ thế kỉ XVI chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kì suy tàn, giai cấp phong kiến không còn tác dụng tích cực đối với lịch sử, với mâu thuẫn nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong chế độ phong kiến đã bộc lộ bước đầu khá sâu sắc. Thời đại “hoàng kim” của chế độ phong kiến ở nước ta cáo chung, tầng lớp thống trị lúc này đã đi vào con đường sa hoa, dâm dật, bọn địa chủ thì quan liêu, tham ô, nhũng lạm, đục khoét nhân dân. Cuộc sống “quân cấp ruộng đất” tạm ổn định hơn thời trước, nay đã biến thành một thủ đoạn ăn cướp trắng trợn ruộng đất của nông dân, đó là chưa kể có biết bao lực dịch, thuế má nặng nề, hình phạt hà khắc, xã hội không còn những “vua sáng tôi hiền” của thời đai Hồng đức, mà chỉ còn những hôn quân bạo chúa, tranh nhau lên ngai vàng vì lợi ích dòng họ, hưởng lạc cá nhân, đời sống của nhân dân vô cùng lầm than.
Cuối thế kỉ XVII các chúa Trịnh như Trịnh Tạc, Trịnh Cán sau khi tạm hưu chiến với chúa Nguyễn, cũng muốn củng cố lại kỉ cương, phục hồi lại lễ giáo. Nhưng chế độ phong kiến vẫn lao mạnh xuống vực thẳm tiêu vong. Rất nhiều cuộc nông dân khởi nghĩa ở khắp nơi trong nước, như sóng trào dâng lên hết đợt này đến đợt khác, xói mòn dần nền tảng của ngôi lầu phong kiến. Ngôi lầu cũ kỉ tuy được tô lại vàng son lòe loẹt nhưng đã mục rỗng ở bên trong.
Và phong trào Tây Sơn đã làm sụp đỗ chế độ phong kiến, của họ Nguyễn cũng như của họ Trịnh. Sau này, Nguyễn Anh dựa vào bọn địa chủ miền Nam và bọn tư bản xâm lược Pháp đã xây dựng lên một triều đại phản động hơn bao giườ hết. Nhà Nguyễn đã rang sức 12 cũng cố kỉ cương phong kiến, phục hồi lại lễ giáo phong kiến một cách ngu xuẩn. Giai cấp phong kiến từ lâu đã là một trở ngại trên con đường đi lên của dân tộc.
Cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến đã có từ lâu đời và trong giai đoạn ngắc ngoải của nó, nó đã có một sức bám dai dẳng. Nó đã tỏ ra mình có vai trò quan trọng trong cuộc sống lúc bấy giờ.